BTR-152 là một loại xe thiết giáp chở quân (APC) sáu bánh của Liên Xô, được xây dựng dựa trên khung gầm và hệ thống truyền động của xe tải đa năng ZIS-151. Nó bắt đầu được đưa vào sử dụng trong một số quốc gia thành viên Khối Warszawa từ năm 1950, và trở thành trụ cột của các tiểu đoàn bộ binh cơ giới Liên Xô cho đến khi dòng xe lội nước BTR-60 xuất hiện vào những năm 1960. BTR là viết tắt của từ bronetransportyor (tiếng Nga: бронетранспортёр, БТР, n.đ. 'xe bọc thép vận tải').
BTR-152 có nhiều phiên bản khác nhau và được sản xuất với số lượng lớn cho quân đội Liên Xô cũng như để xuất khẩu. Các mẫu sản xuất muộn sử dụng linh kiện ô tô từ loại xe tải ZIL-157 có độ tin cậy cao hơn. Ba biến thể chính của BTR-152 xuất hiện trong khoảng thời gian từ 1950 đến 1959: xe thiết giáp chở quân cơ bản với một súng máy 7,62 mm hoặc 12,7 mm gắn trên giá xoay, một xe chỉ huy không trang bị vũ khí với phần mái cao hơn, và một biến thể phòng không được trang bị hệ thống súng ZPU-2. BTR-152 có thể chở được một tiểu đội bộ binh, hoặc các đội vũ khí chuyên dụng cùng với súng cối và thiết bị chống tăng của họ. Trong quân đội Liên Xô, một số xe cũng được triển khai làm xe kéo pháo.
Lịch sử

Phát triển
Trong Thế chiến II, các nhà chiến lược của Hồng quân ưu tiên lối đánh hiệp đồng binh chủng, nhấn mạnh việc triển khai bộ binh hạng nhẹ phối hợp chặt chẽ với xe tăng. Tuy nhiên, bộ binh Liên Xô lúc bấy giờ thiếu sự bảo vệ từ giáp trụ và khả năng cơ động nhanh như xe tăng, khiến họ trở nên yếu thế trước hỏa lực đối phương.
Đến cuối cuộc chiến, chiến thuật bộ binh tùng thiết ban đầu — vốn là việc bộ binh cưỡi trên lưng xe tăng để hỗ trợ — đã bị thay thế bởi việc sử dụng xe bán xích M3 Half-track và xe thiết giáp M3 White do Hoa Kỳ viện trợ. Những phương tiện này được sử dụng rộng rãi để vận chuyển quân, hình thành nên một học thuyết quân sự mới: các phương tiện bọc thép có khả năng bám đuổi tốc độ của xe tăng sẽ đưa bộ binh đến điểm giao tranh, sau đó binh sĩ sẽ xuống xe và chiến đấu bộ bộ.
Kinh nghiệm thời chiến cho thấy Hồng quân có nhu cầu cấp bách về các loại xe bọc thép bánh lốp sau chiến tranh. Bộ Tổng tham mưu đã chỉ định yêu cầu cho một loại xe trinh sát mới và một loại xe thiết giáp chở quân (APC). Xe APC phải có khả năng vận chuyển ít nhất tám binh sĩ. Một cục thiết kế mới tại nhà máy GAZ đã được thành lập để nghiên cứu các ý tưởng tiềm năng; mẫu thử nghiệm cuối cùng của họ, Izdeliye 141 (BTR-40), đã được chấp nhận đưa vào sử dụng nhưng bị đánh giá là quá nhỏ để đảm đương vai trò APC tiêu chuẩn. Trong khi đó, các thông số kỹ thuật cho một loại APC khác đã được ban hành, yêu cầu khả năng chở từ 15 đến 20 hành khách và trang bị một khẩu súng máy hạng nặng. Các dòng xe M3 bán xích và xe Sd.Kfz. 251 thu giữ được của Đức đã được nghiên cứu kỹ lưỡng để làm tài liệu tham khảo cho thiết kế sắp tới.
Việc nghiên cứu ý tưởng cho mẫu APC mới bắt đầu tại nhà máy Zavod imeni Stalina (ZIS) ở Moscow, dưới sự giám sát của kỹ sư Boris Mikhailovich Fitterman, gần như cùng thời điểm với dự án Izdeliye 141 tại GAZ. Các mẫu thử nghiệm được chế tạo bằng linh kiện ô tô từ dây chuyền sản xuất của xe tải ZIS-151; tuy nhiên, khung gầm của xe APC tích hợp động cơ mạnh mẽ hơn và có chiều dài cơ sở ngắn hơn so với phiên bản xe tải đa dụng. Công việc thiết kế được thực hiện bởi một nhóm gồm năm nhân viên của ZIS: Fitterman, K. M. Androsov, A. P. Petrenko, V. F. Rodionov và P. P. Chernyaev. Mẫu thử nghiệm cuối cùng đã được Quân đội Liên Xô thử nghiệm vào tháng 12 năm 1949 và được chấp nhận phục vụ với tên gọi chính thức là BTR-152. Quá trình sản xuất hàng loạt BTR-152 dưới mã nhà máy ZIS-152 bắt đầu vào khoảng giữa năm 1950, biến nó trở thành mẫu APC đầu tiên được sản xuất hàng loạt của Liên Xô. Mặc dù được thiết kế cùng thời điểm, BTR-40 mãi đến cuối năm đó mới bắt đầu được sản xuất hàng loạt.
BTR-152 được quân đội Liên Xô sử dụng làm xe chỉ huy và liên lạc, xe hỏa lực hỗ trợ, xe kéo pháo, và vận tải đa năng. Do thiết kế nóc mở, kíp lái của BTR-152 rất dễ bị tổn thương trước hỏa lực gián tiếp. Trong những năm sau đó, chiếc xe cũng không còn lý tưởng cho một cuộc chiến tranh quy ước lớn tại châu Âu do thiếu khả năng lội nước hoặc các biện pháp phòng chống NBC (Hạt nhân - Sinh học - Hóa học). Tuy nhiên, những chiếc BTR đời đầu này vẫn là một lựa chọn hiệu quả với chi phí thấp, cho phép Liên Xô nhanh chóng cơ giới hóa các sư đoàn bộ binh hiện có. Một chương trình vào cuối những năm 1950 đã tìm cách thay thế BTR-152 bằng một loại APC tinh vi hơn, sử dụng khung gầm lội nước được thiết kế riêng biệt. Do cấu hình sáu bánh của BTR-152 được coi là không đủ để giảm áp suất bề mặt lên lốp xe và đạt được hiệu suất vượt địa hình tối ưu, các kỹ sư Liên Xô đã bắt tay vào chương trình APC tám bánh, kết quả là sự ra đời của dòng xe BTR-60.
Khoảng 8.600 chiếc BTR-152 thuộc tất cả các biến thể đã được sản xuất tại Liên Xô, cùng với một số bản sao không phép được sản xuất tại Trung Quốc dưới tên gọi K56 (Type 56). BTR-152 của Liên Xô được sản xuất từ năm 1950 đến 1959, sau đó được bổ sung bởi BTR-60 từ năm 1960 trở đi. Khi dần trở nên lỗi thời, nhiều chiếc đã được chuyển giao cho các quốc gia đồng minh của Liên Xô tại Châu Phi và Trung Đông; số lượng lớn nhất BTR-152 đã qua sử dụng đã được các quốc gia Ả Rập như Libya, Iraq, Syria, và Ai Cập tiếp nhận. Một số lượng nhỏ cũng được cải tiến thành xe cứu thương bọc thép và xe công binh chiến đấu cho Quân đội Liên Xô; những chiếc này vẫn phục vụ cho đến tận những năm 1980.
Quá trình phục vụ
BTR-152 tham chiến lần đầu tiên trong Cách mạng Hungary 1956, khi chúng được Lữ đoàn Bộ binh cơ giới số 12 của Liên Xô triển khai để dập tắt cuộc khởi nghĩa mới nhen nhóm tại Hungary. Những chiếc BTR đã được triển khai tại Budapest và các khu định cư khác, cũng như trên biên giới Hungary với Áo. Một số lượng xe đã bị hư hỏng hoặc tiêu diệt bởi quân khởi nghĩa sử dụng bom xăng, vốn được ném vào khoang chở quân hở nóc một cách dễ dàng. Do là xe bánh lốp, một số chiếc BTR-152 cũng bị vô hiệu hóa khi lốp cao su bốc cháy, buộc kíp lái phải bỏ xe.
Ai Cập là một trong những khách hàng xuất khẩu lớn đầu tiên của BTR-152 ngoài Đông Âu; năm 1954, nước này đã đặt mua 200 chiếc từ Liên Xô, và từ năm 1961 đến 1966, họ nhận thêm 600 chiếc khác dưới dạng hàng đã qua sử dụng, có thể là viện trợ quân sự. Tương tự, Syria đã nhận ít nhất 200 chiếc BTR-152 vào năm 1966 và 300 chiếc khác ba năm sau đó. Chúng đã được triển khai để chống lại Lực lượng Phòng vệ Israel trong Chiến tranh Sáu ngày. Trong quân đội Syria, chúng được sử dụng như những Xe chiến đấu bộ binh dã chiến thay vì xe APC; binh sĩ vẫn ở trên xe và sử dụng BTR-152 làm bệ bắn thay vì xuống xe chiến đấu bộ binh. Tuy nhiên, việc thiếu phối hợp trong tác chiến hiệp đồng binh chủng thường khiến bộ binh cơ giới Syria bị tách rời khỏi các đơn vị xe tăng hỗ trợ và trở nên yếu thế trước các xe thiết giáp hạng nặng của Israel. Israel đã thu giữ hơn 1.000 chiếc BTR-152 từ quân đội các nước Ả Rập trong Chiến tranh Sáu ngày và cuộc Chiến tranh Yom Kippur sau đó.
BTR-152 đã được Mặt trận Giải phóng Dân tộc Chad (FROLINAT) triển khai trong Chiến tranh nội chiến Chad lần thứ nhất (1965–1979), và đóng vai trò quan trọng trong cuộc tấn công cơ giới vào Salal vào tháng 4 năm 1978. Những chiếc BTR này đã bị tiêu diệt bởi xe thiết giáp Panhard AML-90 của Lính lê dương Pháp. Các tiểu đoàn cơ giới Libya cũng triển khai BTR-152 tại Chad trong cuộc Xung đột Chad–Libya, thường phối hợp với các đại đội xe tăng hoặc xe EE-9 Cascavel. Nhiều chiếc đã bị phá hủy sau khi trúng trực diện hỏa lực pháo từ AML-90 hoặc tên lửa chống tăng SS.11.
BTR-152 trở thành trụ cột của các đơn vị cơ giới ở cả hai phía trong Chiến tranh Ogaden. Quân đội Quốc gia Somali đã đặt mua đủ số lượng BTR-152 từ Liên Xô vào cuối thập niên 1960 để trang bị cho chín tiểu đoàn cơ giới mới. Khoảng một nửa số BTR-152 của Somalia dường như đã bị mất trong cuộc xung đột Ogaden. Việc vận chuyển vũ khí của Liên Xô đến Ethiopia đã tăng tốc sau khi chiến tranh bùng nổ, và bắt đầu từ tháng 3 năm 1977 bao gồm 40 chiếc BTR-152 được lấy từ kho dự trữ của Quân đội Liên Xô. Những phương tiện này chủ yếu là mẫu BTR-152V nhưng cũng bao gồm cả biến thể phòng không BTR-152A.
Liên Xô đã tặng ít nhất sáu chiếc BTR-152 cho Mozambique ngay sau khi nước này giành độc lập vào giữa thập niên 1970. BTR-152 của Mozambique đã được triển khai để chống lại Lực lượng An ninh Rhodesia thực hiện các cuộc đột kích xuyên biên giới, cũng như trong các chiến dịch tìm và diệt được tổ chức gần các căn cứ của Quân đội Kháng chiến Mozambique (RENAMO). Có khả năng tất cả số BTR-152 của Mozambique đã bị tiêu diệt bởi mìn hoặc các cuộc không kích của Rhodesia; chúng không phục vụ lâu trước khi bị thay thế bởi BTR-60. Một lô hàng BTR-152 thứ hai đã được giao cho Lực lượng Giải phóng Nhân dân Mozambique (FPLM) vào năm 1983, nhưng hiện vẫn chưa rõ liệu chúng có được triển khai chiến đấu ở tiền tuyến hay không.
Trong Nội chiến Liban, cả các lực lượng dân quân Lebanon và Quân đội Syria đều đã sử dụng BTR-152.
Mô tả

BTR-152 là một khung gầm xe tải được sửa đổi với thân xe bọc thép và khoang chở quân hở nóc. Các mặt bên và phía sau của khoang chở quân được thiết kế thẳng đứng, với các góc nghiêng vào trong để làm chệch hướng các mảnh đạn pháo. Có các lỗ châu mai ở mỗi bên khoang chở quân và hai cửa phía sau để binh sĩ xuống xe nhanh chóng. Binh sĩ bộ binh có thể khai hỏa vũ khí cá nhân dưới sự bảo vệ tương đối của xe, và ra ngoài qua các cửa này hoặc nhảy qua thành xe. Kíp lái bao gồm một lái xe và một phụ tá ngồi cạnh để vận hành hệ thống thông tin liên lạc.
Xe có hai kiểu bố trí ghế ngồi: kiểu thứ nhất bao gồm các băng ghế gỗ ở hai bên khoang chở quân hướng vào nhau; kiểu thứ hai bao gồm ba hàng ghế hướng về phía trước. Cả lái xe và điện đài viên ngồi bên phải đều được trang bị kính chắn gió riêng; khi tác chiến, các kính này được che bằng hai tấm chắn bọc thép tích hợp các khối kính quan sát. Các thành viên kíp lái ra vào xe qua các cửa hông, phần trên của cửa có bản lề và có thể gập xuống để phục vụ mục đích quan sát.
Vỏ giáp của BTR-152 được chế tạo từ thép hàn với độ dày dao động từ 4 mm (0,16 in) đến 13,5 mm (0,53 in). Mức độ này giúp bảo vệ kíp lái và hành khách khỏi hỏa lực bộ binh hạng nhẹ, mảnh pháo, lựu đạn và mìn chống người, nhưng không hiệu quả trước các mảnh pháo lớn hoặc hỏa lực súng máy hạng nặng. Thân xe thuộc các lô sản xuất muộn có thể được chế tạo từ thép tấm có độ dày lên tới 15 mm (0,59 in). Xe đôi khi được trang bị một tời kéo có tải trọng tối đa 5 tấn và cáp dài 70m. Tùy thuộc vào biến thể, BTR-152 có thể kéo pháo dã chiến, vận chuyển 1,9 tấn hàng hóa hoặc chở một nửa trung đội bộ binh.
Hầu hết các xe BTR-152 của Liên Xô được trang bị động cơ xăng ZIL-123 6 xi-lanh thẳng hàng, làm mát bằng nước, công suất 110 mã lực tại 2.900 vòng/phút. Những chiếc dựa trên khung gầm và linh kiện của xe tải đa năng ZIL-157 sử dụng động cơ ZIL-137K hơi khác biệt. Có một số cửa sập tản nhiệt ở phía trước thân xe để ngăn động cơ quá nhiệt; các cửa này có thể đóng lại an toàn trong khoảng thời gian ngắn khi chiến đấu, miễn là lái xe giảm tốc độ và tránh làm xe quá tải. Hộp số của BTR-152 gồm năm số tiến và một số lùi với một hộp số phụ hai cấp. Số năm là số truyền tăng. Hệ thống treo bao gồm nhíp lá truyền thống kết hợp với các bộ giảm chấn thủy lực.
Vào cuối những năm 1950, hơn 200 chiếc BTR-152 đã được sản xuất với thân xe kín (nóc kín), trái ngược với thiết kế hở nóc truyền thống; những chiếc này được định danh là BTR-152K và BTR-152K1. Chúng còn được một số quân đội khối Warszawa gọi không chính thức là "BTR-152 Model D" hoặc "BTR-152 M1961". Thân xe kín làm giảm khả năng nhận biết tình huống nhưng cho phép lắp đặt hệ thống sưởi trung tâm và hệ thống tăng áp phòng chống vũ khí hủy diệt hàng loạt (NBC). Hai cửa sập mở về phía bên phải được lắp đặt trên phần mái mới.
BTR-152 nguyên bản được trang bị một súng máy trung liên SG-43 Goryunov (SGMB) 7,62mm gắn trên giá xoay (pintle-mounted), với cơ số đạn dự trữ trên xe là 1.250 viên. Súng được lắp ngay sau vị trí lái xe. Các súng máy đa năng 7,62mm bổ sung có thể được gắn ở hai bên thành xe khi cần thiết. Súng máy SGMB có thể quay ngang 45 độ và góc tà (góc nâng) từ -6 đến +24 độ. Một số chiếc BTR được lắp súng máy hạng nặng DShK 12,7mm hoặc KPV 14,5mm thay cho súng SGMB. Các xe mang định danh BTR-152A là phương tiện hỗ trợ mặt đất với khả năng phòng không hạn chế. BTR-152A mang súng KPV kép trên giá súng phòng không ZPU-2. Các biến thể khác bao gồm mẫu của Ai Cập với giá súng M53 bốn nòng của Tiệp Khắc cho bốn khẩu DShK (thường được kéo trên rơ-moóc hai bánh), và một số chiếc được Tổ chức Giải phóng Palestine sửa đổi để lắp pháo phòng không 23mm ZU-23-2.
Do BTR-152 nguyên bản sử dụng khung gầm và động cơ của xe ZIS-151, nó cũng gặp phải các vấn đề bảo trì và khả năng cơ động vượt địa hình kém của loại xe tải đó. Các biến thể sau này, sử dụng linh kiện của ZIL-157, có công suất mạnh hơn và lốp đơn lớn hơn giúp giảm bớt các nhược điểm nhưng không loại bỏ hoàn toàn được chúng. Khả năng vận hành và độ tin cậy vẫn ở mức thấp.
Lịch sử hoạt động
BTR-152 bắt đầu hoạt động trong quân đội Liên Xô từ ngày 24 tháng 3 năm 1950 và công khai xuất hiện trong cuộc diễu hành tại Moskva năm 1951. Nó được loại bỏ dần bằng những chiếc BTR-60 bắt đầu từ năm 1970. Nó còn hoạt động trong quân đội Xô Viết và sau đó là quân đội Nga đến năm 1993 trong cả các mục đích dân sự lẫn quân sự. BTR-152 được xuất khẩu đến những nước châu Phi và các đồng minh xã hội chủ nghĩa của Liên Xô cũ và hiện nay vẫn còn hoạt động tại nhiều nước.
BTR-152 được sử dụng trong cuộc Cách mạng Hungary 1956. Sau đó là ở Cuộc chiến 6 ngày. Tại đây, Israel đã thu giữ hàng chục chiếc BTR-152 của Ai Cập và Syria. Nó cũng xuất hiện trong Cuộc xâm lược Tiệp Khắc năm 1968 và Chiến tranh Việt Nam. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã sử dụng BTR-152 là chiếc xe bọc thép chở quân chính trong thời kỳ chiến tranh.
Biến thể


Liên Xô
- BTR-152 (1950) – Phiên bản APC cơ bản dựa trên xe tải ZIS-151, nhiều chiếc trong số đó sau này đã được lắp thêm nóc và hoán cải cho các mục đích khác như xe cứu thương, trạm vô tuyến và xe công binh. Phiên bản BTR-152 cơ bản không có tời, hở nóc và không có hệ thống đường dẫn điều áp lốp.
- BTR-152A (1951) – BTR-152 được hoán cải thành pháo phòng không tự hành (SPAAG), trang bị súng máy hạng nặng phòng không KPVT 14,5 mm kép (ZPTU-2) hoặc bốn nòng (ZPTU-4) với 2.400 viên đạn; tháp pháo được vận hành thủ công bởi một xạ thủ duy nhất. Toàn bộ kíp xe gồm tám binh sĩ đối với biến thể trang bị ZPTU-2 và năm binh sĩ đối với biến thể trang bị ZPTU-4. Tháp pháo được đặt bên trong khoang chở quân, có thể quay toàn vòng và góc tà (góc nâng) từ -5 đến +80 độ.
- BTR-152 được hoán cải thành xe rải mìn, trang bị các giá đỡ cho mìn chống tăng.
- BTR-152B (1952) – Phiên bản chỉ huy pháo binh với tời lắp phía trước và hệ thống điều áp lốp bên ngoài.
- BTR-152C – Biến thể thông tin liên lạc dựa trên BTR-152.
- BTR-152V (1955) – Biến thể dựa trên xe tải ZIL-157 với hệ thống điều áp lốp bên ngoài, tời lắp phía trước và thiết bị quan sát đêm cho lái xe.
- BTR-152D (1955) – Trang bị vũ khí giống BTR-152A nhưng dựa trên khung gầm BTR-152V.
- BTR-152I – Phiên bản BTR-152V dành cho xe chỉ huy pháo binh.
- BTR-152S – Xe chỉ huy và thông tin liên lạc cho chỉ huy bộ binh. Xe có phần mái bọc kín cao hơn đáng kể, bổ sung thêm đài vô tuyến và ăng-ten.
- BTR-152V1 (1957) – Được trang bị thiết bị quan sát đêm, tời, hở nóc và hệ thống điều áp lốp bên ngoài cải tiến.
- BTR-152K (1959) – Có mái che bọc thép với ba cửa sập lớn phía trên (hai trong số đó mở về phía bên phải khoang chở quân), hệ thống điều áp lốp bên trong và hệ thống lọc/thông gió. Trọng lượng xe tăng lên, kíp xe giảm từ 2+18 xuống còn 2+13.
- BTR-152K được hoán cải thành xe cứu thương bọc thép.
- BTR-152E – Trang bị vũ khí giống BTR-152A nhưng dựa trên khung gầm BTR-152V1.
- BTR-152U – Xe chỉ huy dựa trên BTR-152V1 trang bị hệ thống điều áp lốp bên ngoài. Xe có phần mái bọc kín cao hơn đáng kể, bổ sung vô tuyến và ăng-ten, có trang bị cho các hoạt động tham mưu. Xe này thường kéo theo một rơ-moóc chở thiết bị bổ sung.
- BTR-152U trang bị hệ thống điều áp lốp bên trong.
- BTR-152U với mái bọc thép toàn phần và hệ thống điều áp lốp bên trong.
- BTR-152U trang bị hệ thống điều áp lốp bên trong.
- BTR-152K (1959) – Có mái che bọc thép với ba cửa sập lớn phía trên (hai trong số đó mở về phía bên phải khoang chở quân), hệ thống điều áp lốp bên trong và hệ thống lọc/thông gió. Trọng lượng xe tăng lên, kíp xe giảm từ 2+18 xuống còn 2+13.
- BTR-152V2 – Phiên bản BTR-152V không có tời, trang bị hệ thống điều áp lốp bên trong.
- BTR-152D dựa trên khung gầm BTR-152V2.
- BTR-152B1 (1958) – Phiên bản chỉ huy pháo binh với tời phía trước, hệ thống điều áp lốp bên trong và thiết bị quan sát đêm ТВН-2 cho lái xe.
- BTR-152V3 – Phiên bản BTR-152V có tời phía trước, hở nóc, đèn lái hồng ngoại và hệ thống điều áp lốp bên trong.
- BTR-E152V (1957) – Phiên bản thử nghiệm; cặp bánh thứ hai được dời về phía giữa xe nhằm cải thiện khả năng vượt địa hình.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
- K56 (Type 56) – Phiên bản BTR-152 do Trung Quốc chế tạo.
Ai Cập
- BTR-152 được Ai Cập hoán cải thành xe phòng không tự hành (SPAAG), trang bị hệ thống KLAD của Tiệp Khắc (định danh của Ai Cập là M58) với bốn súng máy hạng nặng phòng không DShK 1938/46 12,7 mm lắp trong khoang chở quân. Biến thể này đã được rút khỏi biên chế vào giữa những năm 1980.
Đông Đức
- SPW-152 – Phiên bản BTR-152 của Đông Đức.
- SPW-152 được hoán cải thành xe cứu thương bọc thép.
- SPW-152U – Phiên bản xe chỉ huy của Đông Đức dựa trên BTR-152.
Israel
- BTR-152 thu giữ từ Syria hoặc Ai Cập và được sửa đổi để đáp ứng nhu cầu của Quân đội Israel.
- BTR-152 TCM-20 – Xe phòng không của Israel dựa trên các xe BTR-152 thu giữ từ Syria hoặc Ai Cập. Xe được trang bị pháo nòng kép 20 mm đặt trên giá súng vận hành bằng điện TCM-20.
Lebanon
- BTR-152 được các lực lượng dân quân Lebanon sửa đổi. Xe được lắp pháo phòng không 23 mm ZU-23-2 bên trong khoang chở quân, được sử dụng trong vai trò hỗ trợ hỏa lực và phòng không.
- BTR-152 được sửa đổi bởi Quân đội Nam Lebanon (SLA). Xe được lắp một cần cẩu bên trong khoang chở quân đã được cắt bớt phần phía trên. Một mẫu vật còn sót lại hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Yad la-Shiryon ở Latrun.
Ba Lan
- BTR-152 được hoán cải để phục vụ như một trạm chỉ huy di động, được trang bị thêm các thiết bị vô tuyến.
- BTR-152 được hoán cải thành xe công binh.
- BTR-152 được hoán cải thành xe kéo pháo bọc thép.
Việt Nam
- Một phiên bản nâng cấp chưa rõ tên do Viện Kỹ thuật Xe - Máy Quân sự Việt Nam thực hiện vào năm 2011.Phiên bản nâng cấp này sử dụng động cơ diesel với hộp số mới, hệ thống lái mới có truyền động thủy lực, bổ sung nắp ca-pô bọc thép, cải tiến hệ thống treo, hệ thống điện, đèn, kính quan sát và các sửa đổi khác. Phiên bản BTR-152 nâng cấp được khẳng định là có tốc độ cao hơn, tiêu thụ ít nhiên liệu hơn và dễ vận hành hơn.
- Biến thể xe tải thương bọc thép được ra mắt vào tháng 10 năm 2018.
Các quốc gia sử dụng



Hiện tại
- Angola − 200 chiếc BTR-152, BTR-60, BTR-70 và BTR-80 tính đến năm 2024
- Campuchia − 200 chiếc BTR-152 và BTR-60 tính đến năm 2024
- Trung Phi − 4 chiếc tính đến năm 2024
- Congo − 20 chiếc tính đến năm 2024
- Cuba − 500 chiếc BTR-152, BTR-50 và BTR-60 tính đến năm 2024
- Guinea Xích Đạo − 10 chiếc tính đến năm 2024
- Eritrea − 25 chiếc BTR-152 và BTR-60 tính đến năm 2024
- Guinée − 6 chiếc tính đến năm 2024
- Guiné-Bissau: 20 chiếc K56 (Type 56) tính đến năm 2024
- Lào − 20 chiếc tính đến năm 2024
- Mozambique − 100 chiếc tính đến năm 2024
- Nicaragua − 41 chiếc đang biên chế và 61 chiếc đang niêm cất tính đến năm 2024
- CHDCND Triều Tiên − Không rõ số lượng đang biên chế tính đến năm 2024
- Sudan − Không rõ số lượng đang biên chế tính đến năm 2024
- Syria − Không rõ số lượng đang biên chế tính đến năm 2024
- Tanzania − 10 chiếc BTR-40 và BTR-152 tính đến năm 2024
- Việt Nam − 1.100 chiếc BTR-152, BTR-40 và BTR-60 tính đến năm 2024
Trước đây
- Afghanistan
- Albania
- Algérie
- Armenia − 10 chiếc vào năm 2011
- Bulgaria
- Trung Quốc − K56 (Type 56)
- Síp − 32 chiếc
- Đông Đức
- Ai Cập
- Estonia − 5 chiếc
- Ethiopia
- Hungary
- Ấn Độ
- Indonesia
- Iran
- Iraq
- Israel − 34 chiếc đang biên chế vào năm 2011, thu giữ từ Ai Cập và Syria
- Libya
- Mali
- Mông Cổ
- Namibia
- North Yemen
- Ba Lan
- România
- Seychelles
- Somalia
- South Yemen
- Liên Xô
- Sri Lanka
- Uganda
- Yemen − 60 chiếc vào năm 2011
- Nam Tư
- Zaire − Số lượng nhỏ
- Zimbabwe − 16 chiếc
Các hình ảnh của BTR-152 tại bảo tàng Yad la-Shiryon, Israel






Liên kết ngoài
- Khám phá xe bọc thép chở bộ binh BTR-152 của Việt Nam
- Ảnh: Xe bọc thép chở bộ binh BTR-152 của Việt Nam