factograf
VI

hãng phim Mỹ

Warner Bros. Pictures

Warner Bros. Pictures

Key facts

ngày thành lập hoặc tạo ratháng 11 năm 1969
là mộtHãng phim, công ty
quốc giaHoa Kỳ
All data from the card 13
Tên cũ
Warner Bros. Pictures, Inc. (1923–1967) Warner Bros-First National Pictures, Inc. (1936–1958) Warner Bros.-Seven Arts (1967–1969) Warner Bros., Inc. (1969–2003)
Loại hình
Bộ phận
Ngành nghề
Điện ảnh
Tiền thân
Warner Features Company
Thành lập
4 tháng 4 năm 1923
Người sáng lập
Harry Warner Albert Warner Sam Warner Jack L. Warner
Trụ sở chính
4000 Warner Boulevard, Burbank, California, Hoa Kỳ
Khu vực hoạt động
Toàn cầu
Thành viên chủ chốt
Michael De Luca và Pamela Abdy (đồng chủ tịch và CEO, Warner Bros. Motion Picture Group)Jesse Ehrman (chủ tịch, sản xuất & phát triển)Steve Spira (chủ tịch, quan hệ kinh doanh)
Sản phẩm
Phim điện ảnh
Dịch vụ
Phát hành phimQuảng bá phimSản xuất phim
Công ty mẹ
Warner Bros. Entertainment
Website
warnerbros.com

Warner Bros. Pictures là một hãng phim Mỹ và là nhánh phát hành của bộ phận Warner Bros. Motion Picture Group thuộc Warner Bros., cả hai đều thuộc sở hữu của Warner Bros. Discovery. Trụ sở chính đặt tại phức hợp Warner Bros. Studios ở Burbank, California. Các phim hoạt hình do Warner Bros. Pictures Animation sản xuất cũng được phát hành dưới tên hãng phim này.

Hãng phim được thành lập vào ngày 4 tháng 4 năm 1923 bởi anh em Harry Warner, Albert Warner, Sam Warner và Jack L. Warner. Ngoài việc sản xuất phim của riêng mình, hãng phim còn xử lý các hoạt động làm phim, phát hành rạp, tiếp thị và quảng bá cho các bộ phim được sản xuất và phát hành bởi các nhãn hiệu khác của Warner Bros. Những nhãn hiệu này bao gồm Warner Bros. Pictures Animation, New Line Cinema và Castle Rock Entertainment, cũng như nhiều nhà sản xuất bên thứ ba khác nhau.

Warner Bros. Pictures hiện là một trong bốn hãng phim người đóng thuộc Warner Bros. Motion Picture Group, các hãng còn lại là New Line Cinema, Castle Rock Entertainment và Spyglass Media Group (với cổ phần thiểu số). Các thương hiệu phim thành công nhất về mặt thương mại của Warner Bros. bao gồm Harry Potter, Vũ trụ DC (trước đây là Vũ trụ Mở rộng DC), Chúa tể những chiếc nhẫn và Monsterverse; Barbie là bộ phim có doanh thu cao nhất toàn cầu của hãng với doanh thu 1,4 tỷ đô la.

Lịch sử

Logo và tên thương hiệu Warner Bros. Pictures được sử dụng từ năm 1993 đến 2020. Logo này được sử dụng làm logo trên màn hình của hãng phim từ năm 1984 đến 2022.
Logo và tên thương hiệu Warner Bros. Pictures được sử dụng từ năm 1993 đến 2020. Logo này được sử dụng làm logo trên màn hình của hãng phim từ năm 1984 đến 2022.
Logo Warner Bros. Pictures sử dụng từ năm 2019 đến 2023. Logo trên màn hình chạy từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 8 năm 2023. Logo in vẫn được sử dụng trên áp phích phim từ năm 2019 đến 2024.
Logo Warner Bros. Pictures sử dụng từ năm 2019 đến 2023. Logo trên màn hình chạy từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 8 năm 2023. Logo in vẫn được sử dụng trên áp phích phim từ năm 2019 đến 2024.
Phiên bản thay thế của logo Warner Bros. Pictures năm 2023 không có biểu ngữ, được sử dụng làm biến thể trên màn hình trong một vài bộ phim. Mặc dù logo trên màn hình cuối năm 2023 đã được sử dụng từ ngày 6 tháng 12 năm 2023 nhưng logo này vẫn được sử dụng…
Phiên bản thay thế của logo Warner Bros. Pictures năm 2023 không có biểu ngữ, được sử dụng làm biến thể trên màn hình trong một vài bộ phim. Mặc dù logo trên màn hình cuối năm 2023 đã được sử dụng từ ngày 6 tháng 12 năm 2023 nhưng logo này vẫn được sử dụng…
3 images

Tiền thân của hãng phim (và Warner Bros. Entertainment hiện đại nói chung) được thành lập vào năm 1910 với tên gọi Warner Features Company tại New Castle, Pennsylvania bởi nhà làm phim Sam Warner và các đối tác kinh doanh cũng là anh em của ông, Harry, Albert và Jack. Họ sản xuất bộ phim đầu tiên của mình, Peril of the Plains vào năm 1912 do Sam đạo diễn cho St. Louis Motion Picture Company. Năm 1915, Sam và Jack chuyển đến California để thành lập xưởng sản xuất; vào ngày 8 tháng 7 năm đó, Albert và Harry thành lập Warner Brothers Distributing Corporation có trụ sở tại New York để phát hành phim. Năm 1918, trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, bốn anh em nhà Warner đã sản xuất bản chuyển thể cuốn sách My Four Years in Germany của James W. Gerard làm bộ phim quy mô đầy đủ đầu tiên của họ; việc lựa chọn chủ đề là táo bạo do tính nhạy cảm của nội dung và chiến tranh. Phim chiến tranh này là một thành công phòng vé và giúp anh em họ khẳng định mình là một hãng phim uy tín.

Vào ngày 4 tháng 4 năm 1923, Warner Bros. Pictures, Inc. chính thức được thành lập khi các anh em tập trung hoàn toàn vào ngành công nghiệp điện ảnh. Năm 1927, Warner Bros. Pictures đã cách mạng hóa ngành công nghiệp điện ảnh bằng việc phát hành bộ phim có âm thanh đầu tiên (hay "phim nói"), The Jazz Singer với sự tham gia của Al Jolson. Tuy nhiên đồng sáng lập hãng phim Sam Warner đã qua đời trước buổi công chiếu của phim. Khi công ty đa dạng hóa trong những năm sau đó, cuối cùng nó được đổi tên thương hiệu với tên gọi chung hiện tại; tuy nhiên Warner Bros. Pictures vẫn tiếp tục được sử dụng làm tên của nhánh sản xuất phim của công ty.

Hãng phim đã phát hành hai mươi lăm bộ phim được đề cử cho Giải Oscar cho phim xuất sắc nhất: Disraeli (1929), I Am a Fugitive from a Chain Gang (1932), 42nd Street (1933), Here Comes the Navy (1934), A Midsummer Night's Dream (1935), Anthony Adverse (1936), The Life of Emile Zola (1937), The Adventures of Robin Hood (1938), Four Daughters (1938), Jezebel (1938) và Dark Victory (1939) cũng như các đề cử sau này.

Sau vụ kiện chống độc quyền năm 1948, thời kỳ bất ổn đã khiến Warner Bros. bán hầu hết các phim và phim hoạt hình trước năm 1950 cho Associated Artists Productions (a.a.p.) vào năm 1956. Ngoài ra a.a.p. cũng có được các phim hoạt hình Popeye của Fleischer Studios và Famous Studios ban đầu từ Paramount Pictures. Hai năm sau, a.a.p. được bán cho United Artists (UA) là công ty sở hữu cho đến năm 1981 khi Metro-Goldwyn-Mayer (MGM) mua lại UA.

Vào tháng 11 năm 1966, Jack L. Warner thừa nhận tuổi tác ngày càng cao và thời thế thay đổi nên bán 32% quyền kiểm soát hãng phim và doanh nghiệp âm nhạc cho Seven Arts Productions với giá 32 triệu đô la. (Seven Arts Productions được điều hành bởi các nhà đầu tư Canada Elliot và Kenneth Hyman.) Cuối cùng công ty bao gồm cả hãng phim được đổi tên thành Warner Bros.-Seven Arts vào ngày 14 tháng 7 năm 1967.

Năm 1982 trong những năm hoạt động độc lập, Turner Broadcasting System đã mua lại Brut Productions; đây là nhánh sản xuất phim của công ty chăm sóc cá nhân có trụ sở tại Pháp Faberge Inc. vốn đang gặp khó khăn vào thời điểm đó.

Năm 1986, Turner Broadcasting System mua lại MGM. Do mắc nợ nên Turner giữ lại các thư viện phim và truyền hình MGM trước tháng 5 năm 1986 và một phần nhỏ thư viện UA trong khi tách phần còn lại của MGM ra. (Các tài sản do Turner giữ lại bao gồm thư viện a.a.p. và quyền Bắc Mỹ đối với thư viện RKO Radio Pictures.)

Năm 1989, Warner Communications mua lại Lorimar-Telepictures Corporation và sáp nhập với Time Inc. để thành lập Time Warner (nay được gọi là Warner Bros. Discovery). Danh mục của Lorimar bao gồm thư viện sau năm 1974 của Rankin/Bass Productions cũng như thư viện sau năm 1947 của Monogram Pictures/Allied Artists Pictures Corporation.

Năm 1991, Turner Broadcasting System mua lại xưởng phim hoạt hình Hanna-Barbera và thư viện Ruby-Spears từ Great American Broadcasting. Nhiều năm sau đó Turner Broadcasting System cũng mua lại Castle Rock Entertainment vào ngày 22 tháng 12 năm 1993 và New Line Cinema vào ngày 28 tháng 1 năm 1994. Vào ngày 10 tháng 10 năm 1996, Time Warner Entertainment mua lại Turner Broadcasting System do đó đưa thư viện trước năm 1950 của Warner Bros. trở về nhà. Ngoài ra Warner Bros. chỉ sở hữu thư viện sau năm 1994 của Castle Rock Entertainment.

Warner Bros. Pictures

Bộ phận hãng phim được thành lập với tên gọi Warner Bros. Pictures vào ngày 3 tháng 3 năm 2003 để đa dạng hóa các chủ đề phim và mở rộng đối tượng khán giả cho các bản phát hành phim của họ. Công ty trở thành một phần của Warner Bros. Pictures Group được thành lập vào năm 2008 và Jeff Robinov được bổ nhiệm làm chủ tịch đầu tiên của công ty. Năm 2017 giám đốc điều hành lâu năm của New Line Toby Emmerich gia nhập với tư cách chủ tịch. Vào tháng 1 năm 2018 ông được thăng chức lên chủ tịch. Vào ngày 23 tháng 10 năm 2018 có thông báo rằng Lynne Frank là Chủ tịch Warner Bros. Pictures Group sẽ rời công ty để theo đuổi những cơ hội mới. Vào tháng 6 năm 2019 Warner Bros. Pictures đã ký thỏa thuận với SF Studios để phân phối phim của họ tại Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy và Phần Lan.

Giống như hầu hết các nhà phân phối phim khác thì Warner Bros. Pictures gặp khó khăn trong việc phát hành phim trong Đại dịch COVID-19 năm 2020 do các hạn chế về việc mở rạp chiếu phim. Sau khi hoãn một số bộ phim dự kiến vào năm 2020 sang năm 2021 thì Warner Bros. đã thông báo vào tháng 12 năm 2020 rằng họ sẽ thực hiện một cách tiếp cận bất thường là lên kế hoạch cho toàn bộ danh sách phim năm 2021 của họ cho cả phát hành tại rạp và khả dụng đồng thời một tháng trên dịch vụ phát trực tuyến HBO Max. Cách tiếp cận này tương tự như việc hãng phim phát hành Wonder Woman 1984 vào tháng đó.

Sau một tháng thì những bộ phim này vẫn sẽ được chiếu tại các rạp và sau đó sẽ có sẵn thông qua phương tiện truyền thông gia đình theo lịch phát hành điển hình. Việc đưa vào phát trực tuyến được gọi là "Dự án Bỏng ngô" đã bị chỉ trích bởi các công ty sản xuất, đạo diễn và diễn viên. Sự chỉ trích nảy sinh vì Warner Bros. Pictures đã công bố kế hoạch phát trực tuyến mà không thông báo trước cho các nhóm này và vì lo ngại về các khoản thanh toán thấp hơn do các tùy chọn phát trực tuyến. Những lời chỉ trích này đã khiến Warner Bros. Pictures thay đổi tỷ lệ bồi thường cho các bộ phim bị ảnh hưởng vào tháng 1 năm 2021 nhằm cung cấp các khoản thanh toán lớn hơn cho dàn diễn viên và đoàn làm phim của họ.

Vào tháng 3 năm 2021 Warner Bros. thông báo rằng họ sẽ ngừng mô hình phát hành cùng ngày trên HBO Max và tại rạp vào năm 2022 mà thay vào đó họ sẽ sử dụng cửa sổ độc quyền tại rạp trong 45 ngày. Sự thay đổi này là một phần của thỏa thuận mà hãng phim đạt được với Cineworld (người điều hành Regal Cinemas).

Warner Bros. Discovery (WBD) là công ty trước đây được gọi là Discovery, Inc. trước khi mua lại WarnerMedia vào tháng 4 năm 2022. Vào ngày 1 tháng 6 năm 2022 WBD đã công bố một số thay đổi:

  • Toby Emmerich sẽ từ chức người đứng đầu Warner Bros. Pictures Group sau một thời gian chuyển tiếp.
  • Công ty sẽ được chia thành ba đơn vị: Warner Bros. Pictures/New Line Cinema, DC Films và Warner Animation Group.
  • Cựu giám đốc điều hành MGM Michael De Luca và Pamela Abdy sẽ giữ chức đồng chủ tịch của Warner Bros. Pictures. Họ cũng sẽ tạm thời giám sát hai bộ phận còn lại cho đến khi các giám đốc điều hành mới được thuê.
  • Emmerich sẽ thành lập công ty sản xuất riêng của mình đồng thời ông cũng sẽ ký thỏa thuận phân phối và tài trợ 5 năm với Warner Bros. Pictures.

Vào ngày 8 tháng 6 thì COO Carolyn Blackwood thông báo rằng bà cũng sẽ từ chức.

Steve Spira trở lại làm chủ tịch quan hệ kinh doanh cho Warner Bros. vào tháng 6 năm 2022. De Luca và Abdy tiếp quản vị trí của Emmerich vào tháng 7 năm 2022. Cựu chủ tịch Alan Horn được bổ nhiệm làm cố vấn cho Chủ tịch WBD David Zaslav để làm việc với De Luca và Abdy.

Vào tháng 8 năm 2022 Warner Bros. Pictures đã ký hợp đồng nhiều năm để phân phối các bộ phim MGM bên ngoài Hoa Kỳ bao gồm cả giải trí tại gia. Hợp đồng này bao gồm sự tham gia chung của cả hai công ty trong tiếp thị, quảng cáo, công khai, phân phối phim và mối quan hệ với các chủ rạp chiếu cho các tựa phim MGM trong tương lai. Cùng tháng đó các kế hoạch phân phối phim của hãng phim đã được sửa đổi với sự phụ thuộc gia tăng vào các bản phát hành tại rạp thay vì chỉ phát hành trên HBO Max.

Walter Hamada chủ tịch của DC Films đã từ chức vào ngày 19 tháng 10 năm 2022. Chủ tịch Sản xuất & Phát triển Courtenay Valenti rời đi vào ngày 28 tháng 10 và được thay thế bởi Jesse Ehrman. Vào ngày 9 tháng 6 năm 2023 Warner Bros. Pictures Group được đổi tên thành Warner Bros. Motion Picture Group.

Thư viện phim

Mối quan hệ của Clint Eastwood với Warner Bros. bắt đầu vào năm 1971 và ông đã đạo diễn một số bộ phim nổi tiếng nhất của hãng bao gồm Unforgiven (1992) và Million Dollar Baby (2004).
Mối quan hệ của Clint Eastwood với Warner Bros. bắt đầu vào năm 1971 và ông đã đạo diễn một số bộ phim nổi tiếng nhất của hãng bao gồm Unforgiven (1992) và Million Dollar Baby (2004).
Christopher Nolan đã viết và đạo diễn một số bộ phim có lợi nhuận cao nhất của Warner Bros. vào đầu thế kỷ 21. Giống như Eastwood thì Nolan đã có một mối quan hệ hợp tác sáng tạo lâu dài với hãng phim.
Christopher Nolan đã viết và đạo diễn một số bộ phim có lợi nhuận cao nhất của Warner Bros. vào đầu thế kỷ 21. Giống như Eastwood thì Nolan đã có một mối quan hệ hợp tác sáng tạo lâu dài với hãng phim.
2 images

Các vụ sáp nhập và mua lại đã giúp Warner Bros. tích lũy một bộ sưu tập đa dạng các bộ phim, phim hoạt hình và chương trình truyền hình. Tính đến năm 2022, Warner Bros. sở hữu hơn 145.000 giờ chương trình bao gồm 12.500 phim truyện và 2.400 chương trình truyền hình bao gồm hơn 150.000 tập riêng lẻ.

Vũ trụ chia sẻ

Warner Bros. sở hữu một số vũ trụ chia sẻ. Một số trong số này dựa trên sách và truyện tranh, bao gồm một số tài sản trí tuệ có doanh thu cao nhất trong ngành công nghiệp điện ảnh.

IP Số phim Ghi chú
Vũ trụ Mở rộng DC 15 Phim dựa trên DC Comics. DCEU là phiên bản đầu tiên của một vũ trụ chia sẻ của Warner Bros.
Vũ trụ DC 1 Khởi động lại nhẹ của Vũ trụ Mở rộng DC do James Gunn và Peter Safran dẫn đầu. Phim đầu tiên được phát hành vào năm 2025.
Thế giới Phù thủy 11 Bản quyền phim được bán bởi J. K. Rowling với giá 2 triệu đô la và % ròng của lợi nhuận. Vũ trụ chia sẻ này đã trở thành IP có doanh thu cao thứ 4 trong lịch sử điện ảnh. Vũ trụ này bao gồm 8 phim dựa trên sách Harry Potter và 3 phim dựa trên Sinh vật huyền bí và nơi tìm ra chúng.
Vũ trụ The Conjuring 9 Phim kinh dị được kịch tính hóa dựa trên các vụ án có thật của các nhà điều tra huyền bí Ed và Lorraine Warren. Vũ trụ chia sẻ này bao gồm các bộ phim như Annabelle, Ác quỷ ma sơ và Mẹ ma than khóc La Llorona.
MonsterVerse 5 Vũ trụ chia sẻ dựa trên các nhân vật phim quái vật như Godzilla và King Kong, ngoài ra còn có các nhân vật kaiju khác do Toho tạo ra bao gồm Mothra, Rodan và King Ghidorah. Được thực hiện trong sự hợp tác sản xuất với Legendary Entertainment.
Trung Địa 6 Loạt phim dựa trên sách được viết bởi J. R. R. Tolkien do Peter Jackson đạo diễn.
The Lego Movie 4 Warner Bros sở hữu bản quyền phim Lego cho đến cuối năm 2019. Nhiều bộ phim Lego hơn đã được lên kế hoạch nhưng đã bị hủy bỏ sau khi Universal Pictures mua bản quyền phim Lego. Các phần tiếp theo bị hủy bao gồm phần tiếp theo của The Lego Batman Movie được gọi là Lego Superfriends.

Loạt phim

Tiêu đề Ngày phát hành Số phim Ghi chú
Gold Diggers 1923–51 7
Looney Tunes 1930–nay 8 1030+ phim ngắn chiếu rạp
Penrod and Sam 1931–38 2
Perry Mason 1934–37 6
Philo Vance 1933–40 5
Torchy Blane 1937–39 9
Four Daughters 1938–41 4
Nancy Drew 1938–2019 6
Secret Service 1939–40 4
A Star Is Born 1954–2018 3 Mua lại từ Selznick International Pictures; hợp tác sản xuất với Transcona Enterprises (1954), First Artists, Barwood Films (cả hai 1976), Metro-Goldwyn-Mayer, Live Nation Productions, Gerber Pictures, Joint Effort và Gerber Pictures (tất cả 2018)
Ocean's 1960–nay 5 hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures (2001–nay)
Dirty Harry 1971–88
The Exorcist 1973–2005 4 hợp tác sản xuất với Morgan Creek (3–4)
Oh, God! 1977–84 3
Every Which Way but Loose 1978–80 2
Superman 1978–2006 5 hợp tác sản xuất với Legendary Pictures (2006); Ngoại trừ Supergirl được phân phối bởi Tri-Star Pictures
Mad Max 1979–nay 5 hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures
Poseidon 1979–2006 2
Thứ sáu ngày 13 1980–2009 hợp tác sản xuất với Paramount Pictures và New Line Cinema
The Shining 1980–2019
Arthur 1981–2011 3
Blade Runner 1982–2017 2 hợp tác sản xuất với Alcon Entertainment và Columbia Pictures (2017)
National Lampoon's Vacation 1983–2015 5
Gremlins 1984–nay 2 hợp tác sản xuất với Amblin Entertainment
Police Academy 1984–nay 7
Sesame Street 1985–nay 2 hợp tác sản xuất với Sesame Workshop
The Color Purple 1985–2023 hợp tác sản xuất với Amblin Entertainment (1984–2023), The Guber-Peters Company (1984), OW Films, SGS Pictures và Quincy Jones Productions (tất cả 2023)
Vũ khí tối thượng 1987–98 4
The Lost Boys 1987–2010 3
Beetlejuice 1988–nay 2
Batman 1989–97 4 hợp tác sản xuất với Polygram Pictures (1989–95)
Pure Country 1992–2017 3
Under Siege 1992–95 2 hợp tác sản xuất với Regency Enterprises
Unforgiven 1992–2013
Grumpy Old Men 1993–95
The Fugitive 1993–98
Free Willy 1993–2010 4 hợp tác sản xuất với Regency Enterprises
Major League 1994–98 2 chỉ phân phối; được sản xuất bởi Morgan Creek
Ace Ventura 1994–2009 3
Eraser 1996–2022 2
Twister 1996–2024 hợp tác sản xuất với Universal Pictures, Amblin Entertainment (cả hai 1996–2024) và The Kennedy/Marshall Company (cả hai 2024)
The Dukes of Hazzard 1997–2007 4 hợp tác sản xuất với Kudzu Productions (cả hai 1997–2000) và Gerber Pictures (cả hai 2005–2007)
Ma trận 1999–nay hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures
Analyze 1999–2002 2 hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures và TriBeCa Productions
Pokémon 1999–2019 4 Chỉ phân phối tại Hoa Kỳ; hợp tác sản xuất với The Pokémon Company
Deep Blue Sea 1999–2020 3 hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures
The Whole Yards 2000–04 2 chỉ phân phối; hợp tác sản xuất với Morgan Creek (2000) và Franchise Pictures
Hoa hậu FBI 2000–05 hợp tác sản xuất với Castle Rock Entertainment và Village Roadshow Pictures
Tom và Jerry 2001–nay 16 hợp tác sản xuất với Turner Entertainment
Cats & Dogs 2001–20 3 hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures (1–2)
Thế giới Phù thủy 2001–nay 11
Scooby-Doo 2002–nay 6
Kangaroo Jack 2003–04 2 hợp tác sản xuất với Jerry Bruckheimer Films
Kẻ hủy diệt 2003–09 Chỉ phân phối tại Hoa Kỳ; hợp tác sản xuất với Columbia Pictures
A Cinderella Story 2004–nay 6
Laura's Star 2004–21 hợp tác sản xuất với Rothkirch Cartoon-Film, sản xuất tại Đức
The Sisterhood of the Traveling Pants 2005–08 2 hợp tác sản xuất với Alloy Entertainment
Bộ ba phim The Dark Knight 2005–12 3 hợp tác sản xuất với Legendary Pictures
Willy Wonka 2005–nay 2 hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures
Happy Feet 2006–11
300 2006–nay hợp tác sản xuất với Legendary Pictures
Chuyện ấy là chuyện nhỏ 2008–10 2
The Hangover 2009–13 3
Final Destination 2009–nay 2 hợp tác sản xuất với New Line Cinema và Practical Pictures
Sherlock Holmes hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures
Watchmen 2009–24 3 Chỉ phân phối tại Hoa Kỳ; hợp tác sản xuất với Paramount Pictures, DC Films (cả hai 2009–24) và Legendary Pictures (2009)
Top Cat 2011–15 2 Chỉ phân phối quốc tế; hợp tác sản xuất với Anima Estudios, Illusion Studios (2011), Discreet Art Productions và Prana Studios (cả hai 2015)
Dolphin Tale 2011–14 hợp tác sản xuất với Alcon Entertainment
Người Hobbit 2012–14 3 hợp tác sản xuất với Metro-Goldwyn-Mayer, New Line Cinema và WingNut Films; Đồng sở hữu với Metro-Goldwyn-Mayer
Magic Mike 2012–23
Vũ trụ Mở rộng DC 2013–23 15 hợp tác sản xuất với DC Entertainment (2013–16), DC Films (2016–23) và RatPac Entertainment (2016–17)
Vũ trụ The Conjuring 2013–nay 7 hợp tác sản xuất với Atomic Monster, The Safran Company và New Line Cinema
The Lego Movie 2014–19 4 hợp tác sản xuất với Warner Bros. Pictures Animation, Village Roadshow Pictures (2014) và Lego System A/S
Monsterverse 2014–nay 5 hợp tác sản xuất với Legendary Pictures
Creed 2015–nay 3 hợp tác sản xuất với Metro-Goldwyn-Mayer và New Line Cinema (1–2)
IT 2017–nay 2 chỉ phân phối; được sản xuất bởi New Line Cinema, Rideback, Vertigo Entertainment và KatzSmith Productions
Cá mập siêu bạo chúa 2018–nay
Thám tử Pikachu 2019–nay 1 hợp tác sản xuất với Legendary Pictures, The Pokémon Company và Toho
Joker 2019–24 2 hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures, DC Films (1) Bron Creative và Joint Effort.
Dune 2021–nay hợp tác sản xuất với Legendary Pictures
The Batman 2022–nay 1 chỉ phân phối; được sản xuất bởi DC Films (1), 6th & Idaho, Dylan Clark Productions và DC Studios.
Một bộ phim Minecraft 2025–nay hợp tác sản xuất với Legendary Pictures, Mojang Studios, Vertigo Entertainment và On the Roam.
Vũ trụ DC chỉ phân phối; được sản xuất bởi DC Studios
Thế giới kỳ diệu của Gumball 2011–

nay

1 tạo bởi Cartoon Network

Phim có doanh thu cao nhất

 Chỉ ra những bộ phim hiện đang được phát hành tại rạp trong tuần bắt đầu từ 12 tháng 12 năm 2025.
Phim có doanh thu cao nhất tại Bắc Mỹ
Xếp hạng Tiêu đề Năm Doanh thu
1 Barbie 2023 $636.238.421
2 Kỵ sĩ bóng đêm ‡ 2008 $534.987.076
3 Kỵ sĩ bóng đêm trỗi dậy 2012 $448.149.584
4 Một bộ phim Minecraft 2025 $423.949.195
5 Wonder Woman: Nữ thần chiến binh 2017 $412.845.172
6 Harry Potter và Bảo bối Tử thần – Phần 2 2011 $381.447.587
7 The Batman 2022 $369.345.583
8 Superman 2025 $354.184.465
9 Lính bắn tỉa Mỹ 2014 $350.159.020
10 Joker 2019 $335.477.657
11 Aquaman: Đế vương Atlantis 2018 $335.104.314
12 Batman đại chiến Superman: Ánh sáng công lý 2016 $330.360.194
13 It 2017 $328.874.981
14 Biệt đội cảm tử 2016 $325.100.054
15 Harry Potter và Hòn đá Phù thủy ‡ 2001 $317.871.467
16 Người Hobbit: Hành trình vô định 2012 $303.030.651
17 Harry Potter và Hoàng tử lai 2009 $302.334.374
18 Harry Potter và Bảo bối Tử thần – Phần 1 2010 $296.374.621
19 Ma siêu quậy 2024 $294.100.435
20 Kẻ trộm giấc mơ 2010 $292.587.330
21 Harry Potter và Hội Phượng Hoàng 2007 $292.382.727
22 Người đàn ông thép 2013 $291.045.518
23 Harry Potter và Chiếc cốc lửa 2005 $290.469.928
24 Dune: Hành tinh cát – Phần hai 2024 $282.144.358
25 Ma trận: Tái lập 2003 $281.576.461
Phim có doanh thu cao nhất toàn cầu
Xếp hạng Tiêu đề Năm Doanh thu
1 Barbie 2023 $1.447.038.421
2 Harry Potter và Bảo bối Tử thần – Phần 2 2011 $1.342.359.942
3 Aquaman: Đế vương Atlantis 2018 $1.148.528.393
4 Kỵ sĩ bóng đêm trỗi dậy 2012 $1.081.153.097
5 Joker 2019 $1.074.445.730
6 Harry Potter và Hòn đá Phù thủy ‡ 2001 $1.028.492.855
7 Người Hobbit: Hành trình vô định 2012 $1.017.030.651
8 Kỵ sĩ bóng đêm ‡ 2008 $1.009.057.329
9 Harry Potter và Bảo bối Tử thần – Phần 1 2010 $977.070.383
10 Người Hobbit: Đại chiến với rồng lửa 2013 $959.027.992
11 Một bộ phim Minecraft 2025 $957.949.195
12 Người Hobbit: Đại chiến Năm cánh quân 2014 $956.019.788
13 Harry Potter và Hội Phượng Hoàng 2007 $942.201.710
14 Harry Potter và Hoàng tử lai 2009 $934.483.039
15 Harry Potter và Chiếc cốc lửa 2005 $896.730.264
16 Harry Potter và Căn phòng Bí mật 2002 $879.793.867
17 Batman đại chiến Superman: Ánh sáng công lý 2016 $873.637.528
18 Kẻ trộm giấc mơ 2010 $836.848.102
19 Wonder Woman: Nữ thần chiến binh 2017 $822.854.286
20 Sinh vật huyền bí và nơi tìm ra chúng 2016 $814.037.575
21 Harry Potter và Tù nhân Azkaban 2004 $796.907.323
22 The Batman 2022 $770.962.583
23 Hố đen tử thần ‡ 2014 $758.690.230
24 Biệt đội cảm tử 2016 $746.846.894
25 Ma trận: Tái lập 2003 $741.847.937

‡ — Bao gồm các lần tái phát hành tại rạp

Liên kết ngoài

  • Website chính thức

Bản mẫu:Academy Award Best Picture Producers Bản mẫu:Academy Honorary Award

Read next

In 33 languages

Text from Wikipedia, CC BY-SA 4.0 · Source article