Warner Bros. Pictures là một hãng phim Mỹ và là nhánh phát hành của bộ phận Warner Bros. Motion Picture Group thuộc Warner Bros., cả hai đều thuộc sở hữu của Warner Bros. Discovery. Trụ sở chính đặt tại phức hợp Warner Bros. Studios ở Burbank, California. Các phim hoạt hình do Warner Bros. Pictures Animation sản xuất cũng được phát hành dưới tên hãng phim này.
Hãng phim được thành lập vào ngày 4 tháng 4 năm 1923 bởi anh em Harry Warner, Albert Warner, Sam Warner và Jack L. Warner. Ngoài việc sản xuất phim của riêng mình, hãng phim còn xử lý các hoạt động làm phim, phát hành rạp, tiếp thị và quảng bá cho các bộ phim được sản xuất và phát hành bởi các nhãn hiệu khác của Warner Bros. Những nhãn hiệu này bao gồm Warner Bros. Pictures Animation, New Line Cinema và Castle Rock Entertainment, cũng như nhiều nhà sản xuất bên thứ ba khác nhau.
Warner Bros. Pictures hiện là một trong bốn hãng phim người đóng thuộc Warner Bros. Motion Picture Group, các hãng còn lại là New Line Cinema, Castle Rock Entertainment và Spyglass Media Group (với cổ phần thiểu số). Các thương hiệu phim thành công nhất về mặt thương mại của Warner Bros. bao gồm Harry Potter, Vũ trụ DC (trước đây là Vũ trụ Mở rộng DC), Chúa tể những chiếc nhẫn và Monsterverse; Barbie là bộ phim có doanh thu cao nhất toàn cầu của hãng với doanh thu 1,4 tỷ đô la.
Lịch sử



Tiền thân của hãng phim (và Warner Bros. Entertainment hiện đại nói chung) được thành lập vào năm 1910 với tên gọi Warner Features Company tại New Castle, Pennsylvania bởi nhà làm phim Sam Warner và các đối tác kinh doanh cũng là anh em của ông, Harry, Albert và Jack. Họ sản xuất bộ phim đầu tiên của mình, Peril of the Plains vào năm 1912 do Sam đạo diễn cho St. Louis Motion Picture Company. Năm 1915, Sam và Jack chuyển đến California để thành lập xưởng sản xuất; vào ngày 8 tháng 7 năm đó, Albert và Harry thành lập Warner Brothers Distributing Corporation có trụ sở tại New York để phát hành phim. Năm 1918, trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, bốn anh em nhà Warner đã sản xuất bản chuyển thể cuốn sách My Four Years in Germany của James W. Gerard làm bộ phim quy mô đầy đủ đầu tiên của họ; việc lựa chọn chủ đề là táo bạo do tính nhạy cảm của nội dung và chiến tranh. Phim chiến tranh này là một thành công phòng vé và giúp anh em họ khẳng định mình là một hãng phim uy tín.
Vào ngày 4 tháng 4 năm 1923, Warner Bros. Pictures, Inc. chính thức được thành lập khi các anh em tập trung hoàn toàn vào ngành công nghiệp điện ảnh. Năm 1927, Warner Bros. Pictures đã cách mạng hóa ngành công nghiệp điện ảnh bằng việc phát hành bộ phim có âm thanh đầu tiên (hay "phim nói"), The Jazz Singer với sự tham gia của Al Jolson. Tuy nhiên đồng sáng lập hãng phim Sam Warner đã qua đời trước buổi công chiếu của phim. Khi công ty đa dạng hóa trong những năm sau đó, cuối cùng nó được đổi tên thương hiệu với tên gọi chung hiện tại; tuy nhiên Warner Bros. Pictures vẫn tiếp tục được sử dụng làm tên của nhánh sản xuất phim của công ty.
Hãng phim đã phát hành hai mươi lăm bộ phim được đề cử cho Giải Oscar cho phim xuất sắc nhất: Disraeli (1929), I Am a Fugitive from a Chain Gang (1932), 42nd Street (1933), Here Comes the Navy (1934), A Midsummer Night's Dream (1935), Anthony Adverse (1936), The Life of Emile Zola (1937), The Adventures of Robin Hood (1938), Four Daughters (1938), Jezebel (1938) và Dark Victory (1939) cũng như các đề cử sau này.
Sau vụ kiện chống độc quyền năm 1948, thời kỳ bất ổn đã khiến Warner Bros. bán hầu hết các phim và phim hoạt hình trước năm 1950 cho Associated Artists Productions (a.a.p.) vào năm 1956. Ngoài ra a.a.p. cũng có được các phim hoạt hình Popeye của Fleischer Studios và Famous Studios ban đầu từ Paramount Pictures. Hai năm sau, a.a.p. được bán cho United Artists (UA) là công ty sở hữu cho đến năm 1981 khi Metro-Goldwyn-Mayer (MGM) mua lại UA.
Vào tháng 11 năm 1966, Jack L. Warner thừa nhận tuổi tác ngày càng cao và thời thế thay đổi nên bán 32% quyền kiểm soát hãng phim và doanh nghiệp âm nhạc cho Seven Arts Productions với giá 32 triệu đô la. (Seven Arts Productions được điều hành bởi các nhà đầu tư Canada Elliot và Kenneth Hyman.) Cuối cùng công ty bao gồm cả hãng phim được đổi tên thành Warner Bros.-Seven Arts vào ngày 14 tháng 7 năm 1967.
Năm 1982 trong những năm hoạt động độc lập, Turner Broadcasting System đã mua lại Brut Productions; đây là nhánh sản xuất phim của công ty chăm sóc cá nhân có trụ sở tại Pháp Faberge Inc. vốn đang gặp khó khăn vào thời điểm đó.
Năm 1986, Turner Broadcasting System mua lại MGM. Do mắc nợ nên Turner giữ lại các thư viện phim và truyền hình MGM trước tháng 5 năm 1986 và một phần nhỏ thư viện UA trong khi tách phần còn lại của MGM ra. (Các tài sản do Turner giữ lại bao gồm thư viện a.a.p. và quyền Bắc Mỹ đối với thư viện RKO Radio Pictures.)
Năm 1989, Warner Communications mua lại Lorimar-Telepictures Corporation và sáp nhập với Time Inc. để thành lập Time Warner (nay được gọi là Warner Bros. Discovery). Danh mục của Lorimar bao gồm thư viện sau năm 1974 của Rankin/Bass Productions cũng như thư viện sau năm 1947 của Monogram Pictures/Allied Artists Pictures Corporation.
Năm 1991, Turner Broadcasting System mua lại xưởng phim hoạt hình Hanna-Barbera và thư viện Ruby-Spears từ Great American Broadcasting. Nhiều năm sau đó Turner Broadcasting System cũng mua lại Castle Rock Entertainment vào ngày 22 tháng 12 năm 1993 và New Line Cinema vào ngày 28 tháng 1 năm 1994. Vào ngày 10 tháng 10 năm 1996, Time Warner Entertainment mua lại Turner Broadcasting System do đó đưa thư viện trước năm 1950 của Warner Bros. trở về nhà. Ngoài ra Warner Bros. chỉ sở hữu thư viện sau năm 1994 của Castle Rock Entertainment.
Warner Bros. Pictures
Bộ phận hãng phim được thành lập với tên gọi Warner Bros. Pictures vào ngày 3 tháng 3 năm 2003 để đa dạng hóa các chủ đề phim và mở rộng đối tượng khán giả cho các bản phát hành phim của họ. Công ty trở thành một phần của Warner Bros. Pictures Group được thành lập vào năm 2008 và Jeff Robinov được bổ nhiệm làm chủ tịch đầu tiên của công ty. Năm 2017 giám đốc điều hành lâu năm của New Line Toby Emmerich gia nhập với tư cách chủ tịch. Vào tháng 1 năm 2018 ông được thăng chức lên chủ tịch. Vào ngày 23 tháng 10 năm 2018 có thông báo rằng Lynne Frank là Chủ tịch Warner Bros. Pictures Group sẽ rời công ty để theo đuổi những cơ hội mới. Vào tháng 6 năm 2019 Warner Bros. Pictures đã ký thỏa thuận với SF Studios để phân phối phim của họ tại Thụy Điển, Đan Mạch, Na Uy và Phần Lan.
Giống như hầu hết các nhà phân phối phim khác thì Warner Bros. Pictures gặp khó khăn trong việc phát hành phim trong Đại dịch COVID-19 năm 2020 do các hạn chế về việc mở rạp chiếu phim. Sau khi hoãn một số bộ phim dự kiến vào năm 2020 sang năm 2021 thì Warner Bros. đã thông báo vào tháng 12 năm 2020 rằng họ sẽ thực hiện một cách tiếp cận bất thường là lên kế hoạch cho toàn bộ danh sách phim năm 2021 của họ cho cả phát hành tại rạp và khả dụng đồng thời một tháng trên dịch vụ phát trực tuyến HBO Max. Cách tiếp cận này tương tự như việc hãng phim phát hành Wonder Woman 1984 vào tháng đó.
Sau một tháng thì những bộ phim này vẫn sẽ được chiếu tại các rạp và sau đó sẽ có sẵn thông qua phương tiện truyền thông gia đình theo lịch phát hành điển hình. Việc đưa vào phát trực tuyến được gọi là "Dự án Bỏng ngô" đã bị chỉ trích bởi các công ty sản xuất, đạo diễn và diễn viên. Sự chỉ trích nảy sinh vì Warner Bros. Pictures đã công bố kế hoạch phát trực tuyến mà không thông báo trước cho các nhóm này và vì lo ngại về các khoản thanh toán thấp hơn do các tùy chọn phát trực tuyến. Những lời chỉ trích này đã khiến Warner Bros. Pictures thay đổi tỷ lệ bồi thường cho các bộ phim bị ảnh hưởng vào tháng 1 năm 2021 nhằm cung cấp các khoản thanh toán lớn hơn cho dàn diễn viên và đoàn làm phim của họ.
Vào tháng 3 năm 2021 Warner Bros. thông báo rằng họ sẽ ngừng mô hình phát hành cùng ngày trên HBO Max và tại rạp vào năm 2022 mà thay vào đó họ sẽ sử dụng cửa sổ độc quyền tại rạp trong 45 ngày. Sự thay đổi này là một phần của thỏa thuận mà hãng phim đạt được với Cineworld (người điều hành Regal Cinemas).
Warner Bros. Discovery (WBD) là công ty trước đây được gọi là Discovery, Inc. trước khi mua lại WarnerMedia vào tháng 4 năm 2022. Vào ngày 1 tháng 6 năm 2022 WBD đã công bố một số thay đổi:
- Toby Emmerich sẽ từ chức người đứng đầu Warner Bros. Pictures Group sau một thời gian chuyển tiếp.
- Công ty sẽ được chia thành ba đơn vị: Warner Bros. Pictures/New Line Cinema, DC Films và Warner Animation Group.
- Cựu giám đốc điều hành MGM Michael De Luca và Pamela Abdy sẽ giữ chức đồng chủ tịch của Warner Bros. Pictures. Họ cũng sẽ tạm thời giám sát hai bộ phận còn lại cho đến khi các giám đốc điều hành mới được thuê.
- Emmerich sẽ thành lập công ty sản xuất riêng của mình đồng thời ông cũng sẽ ký thỏa thuận phân phối và tài trợ 5 năm với Warner Bros. Pictures.
Vào ngày 8 tháng 6 thì COO Carolyn Blackwood thông báo rằng bà cũng sẽ từ chức.
Steve Spira trở lại làm chủ tịch quan hệ kinh doanh cho Warner Bros. vào tháng 6 năm 2022. De Luca và Abdy tiếp quản vị trí của Emmerich vào tháng 7 năm 2022. Cựu chủ tịch Alan Horn được bổ nhiệm làm cố vấn cho Chủ tịch WBD David Zaslav để làm việc với De Luca và Abdy.
Vào tháng 8 năm 2022 Warner Bros. Pictures đã ký hợp đồng nhiều năm để phân phối các bộ phim MGM bên ngoài Hoa Kỳ bao gồm cả giải trí tại gia. Hợp đồng này bao gồm sự tham gia chung của cả hai công ty trong tiếp thị, quảng cáo, công khai, phân phối phim và mối quan hệ với các chủ rạp chiếu cho các tựa phim MGM trong tương lai. Cùng tháng đó các kế hoạch phân phối phim của hãng phim đã được sửa đổi với sự phụ thuộc gia tăng vào các bản phát hành tại rạp thay vì chỉ phát hành trên HBO Max.
Walter Hamada chủ tịch của DC Films đã từ chức vào ngày 19 tháng 10 năm 2022. Chủ tịch Sản xuất & Phát triển Courtenay Valenti rời đi vào ngày 28 tháng 10 và được thay thế bởi Jesse Ehrman. Vào ngày 9 tháng 6 năm 2023 Warner Bros. Pictures Group được đổi tên thành Warner Bros. Motion Picture Group.
Thư viện phim


Các vụ sáp nhập và mua lại đã giúp Warner Bros. tích lũy một bộ sưu tập đa dạng các bộ phim, phim hoạt hình và chương trình truyền hình. Tính đến năm 2022, Warner Bros. sở hữu hơn 145.000 giờ chương trình bao gồm 12.500 phim truyện và 2.400 chương trình truyền hình bao gồm hơn 150.000 tập riêng lẻ.
Vũ trụ chia sẻ
Warner Bros. sở hữu một số vũ trụ chia sẻ. Một số trong số này dựa trên sách và truyện tranh, bao gồm một số tài sản trí tuệ có doanh thu cao nhất trong ngành công nghiệp điện ảnh.
| IP | Số phim | Ghi chú |
|---|---|---|
| Vũ trụ Mở rộng DC | 15 | Phim dựa trên DC Comics. DCEU là phiên bản đầu tiên của một vũ trụ chia sẻ của Warner Bros. |
| Vũ trụ DC | 1 | Khởi động lại nhẹ của Vũ trụ Mở rộng DC do James Gunn và Peter Safran dẫn đầu. Phim đầu tiên được phát hành vào năm 2025. |
| Thế giới Phù thủy | 11 | Bản quyền phim được bán bởi J. K. Rowling với giá 2 triệu đô la và % ròng của lợi nhuận. Vũ trụ chia sẻ này đã trở thành IP có doanh thu cao thứ 4 trong lịch sử điện ảnh. Vũ trụ này bao gồm 8 phim dựa trên sách Harry Potter và 3 phim dựa trên Sinh vật huyền bí và nơi tìm ra chúng. |
| Vũ trụ The Conjuring | 9 | Phim kinh dị được kịch tính hóa dựa trên các vụ án có thật của các nhà điều tra huyền bí Ed và Lorraine Warren. Vũ trụ chia sẻ này bao gồm các bộ phim như Annabelle, Ác quỷ ma sơ và Mẹ ma than khóc La Llorona. |
| MonsterVerse | 5 | Vũ trụ chia sẻ dựa trên các nhân vật phim quái vật như Godzilla và King Kong, ngoài ra còn có các nhân vật kaiju khác do Toho tạo ra bao gồm Mothra, Rodan và King Ghidorah. Được thực hiện trong sự hợp tác sản xuất với Legendary Entertainment. |
| Trung Địa | 6 | Loạt phim dựa trên sách được viết bởi J. R. R. Tolkien do Peter Jackson đạo diễn. |
| The Lego Movie | 4 | Warner Bros sở hữu bản quyền phim Lego cho đến cuối năm 2019. Nhiều bộ phim Lego hơn đã được lên kế hoạch nhưng đã bị hủy bỏ sau khi Universal Pictures mua bản quyền phim Lego. Các phần tiếp theo bị hủy bao gồm phần tiếp theo của The Lego Batman Movie được gọi là Lego Superfriends. |
Loạt phim
| Tiêu đề | Ngày phát hành | Số phim | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Gold Diggers | 1923–51 | 7 | |
| Looney Tunes | 1930–nay | 8 | 1030+ phim ngắn chiếu rạp |
| Penrod and Sam | 1931–38 | 2 | |
| Perry Mason | 1934–37 | 6 | |
| Philo Vance | 1933–40 | 5 | |
| Torchy Blane | 1937–39 | 9 | |
| Four Daughters | 1938–41 | 4 | |
| Nancy Drew | 1938–2019 | 6 | |
| Secret Service | 1939–40 | 4 | |
| A Star Is Born | 1954–2018 | 3 | Mua lại từ Selznick International Pictures; hợp tác sản xuất với Transcona Enterprises (1954), First Artists, Barwood Films (cả hai 1976), Metro-Goldwyn-Mayer, Live Nation Productions, Gerber Pictures, Joint Effort và Gerber Pictures (tất cả 2018) |
| Ocean's | 1960–nay | 5 | hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures (2001–nay) |
| Dirty Harry | 1971–88 | ||
| The Exorcist | 1973–2005 | 4 | hợp tác sản xuất với Morgan Creek (3–4) |
| Oh, God! | 1977–84 | 3 | |
| Every Which Way but Loose | 1978–80 | 2 | |
| Superman | 1978–2006 | 5 | hợp tác sản xuất với Legendary Pictures (2006); Ngoại trừ Supergirl được phân phối bởi Tri-Star Pictures |
| Mad Max | 1979–nay | 5 | hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures |
| Poseidon | 1979–2006 | 2 | |
| Thứ sáu ngày 13 | 1980–2009 | hợp tác sản xuất với Paramount Pictures và New Line Cinema | |
| The Shining | 1980–2019 | ||
| Arthur | 1981–2011 | 3 | |
| Blade Runner | 1982–2017 | 2 | hợp tác sản xuất với Alcon Entertainment và Columbia Pictures (2017) |
| National Lampoon's Vacation | 1983–2015 | 5 | |
| Gremlins | 1984–nay | 2 | hợp tác sản xuất với Amblin Entertainment |
| Police Academy | 1984–nay | 7 | |
| Sesame Street | 1985–nay | 2 | hợp tác sản xuất với Sesame Workshop |
| The Color Purple | 1985–2023 | hợp tác sản xuất với Amblin Entertainment (1984–2023), The Guber-Peters Company (1984), OW Films, SGS Pictures và Quincy Jones Productions (tất cả 2023) | |
| Vũ khí tối thượng | 1987–98 | 4 | |
| The Lost Boys | 1987–2010 | 3 | |
| Beetlejuice | 1988–nay | 2 | |
| Batman | 1989–97 | 4 | hợp tác sản xuất với Polygram Pictures (1989–95) |
| Pure Country | 1992–2017 | 3 | |
| Under Siege | 1992–95 | 2 | hợp tác sản xuất với Regency Enterprises |
| Unforgiven | 1992–2013 | ||
| Grumpy Old Men | 1993–95 | ||
| The Fugitive | 1993–98 | ||
| Free Willy | 1993–2010 | 4 | hợp tác sản xuất với Regency Enterprises |
| Major League | 1994–98 | 2 | chỉ phân phối; được sản xuất bởi Morgan Creek |
| Ace Ventura | 1994–2009 | 3 | |
| Eraser | 1996–2022 | 2 | |
| Twister | 1996–2024 | hợp tác sản xuất với Universal Pictures, Amblin Entertainment (cả hai 1996–2024) và The Kennedy/Marshall Company (cả hai 2024) | |
| The Dukes of Hazzard | 1997–2007 | 4 | hợp tác sản xuất với Kudzu Productions (cả hai 1997–2000) và Gerber Pictures (cả hai 2005–2007) |
| Ma trận | 1999–nay | hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures | |
| Analyze | 1999–2002 | 2 | hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures và TriBeCa Productions |
| Pokémon | 1999–2019 | 4 | Chỉ phân phối tại Hoa Kỳ; hợp tác sản xuất với The Pokémon Company |
| Deep Blue Sea | 1999–2020 | 3 | hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures |
| The Whole Yards | 2000–04 | 2 | chỉ phân phối; hợp tác sản xuất với Morgan Creek (2000) và Franchise Pictures |
| Hoa hậu FBI | 2000–05 | hợp tác sản xuất với Castle Rock Entertainment và Village Roadshow Pictures | |
| Tom và Jerry | 2001–nay | 16 | hợp tác sản xuất với Turner Entertainment |
| Cats & Dogs | 2001–20 | 3 | hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures (1–2) |
| Thế giới Phù thủy | 2001–nay | 11 | |
| Scooby-Doo | 2002–nay | 6 | |
| Kangaroo Jack | 2003–04 | 2 | hợp tác sản xuất với Jerry Bruckheimer Films |
| Kẻ hủy diệt | 2003–09 | Chỉ phân phối tại Hoa Kỳ; hợp tác sản xuất với Columbia Pictures | |
| A Cinderella Story | 2004–nay | 6 | |
| Laura's Star | 2004–21 | hợp tác sản xuất với Rothkirch Cartoon-Film, sản xuất tại Đức | |
| The Sisterhood of the Traveling Pants | 2005–08 | 2 | hợp tác sản xuất với Alloy Entertainment |
| Bộ ba phim The Dark Knight | 2005–12 | 3 | hợp tác sản xuất với Legendary Pictures |
| Willy Wonka | 2005–nay | 2 | hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures |
| Happy Feet | 2006–11 | ||
| 300 | 2006–nay | hợp tác sản xuất với Legendary Pictures | |
| Chuyện ấy là chuyện nhỏ | 2008–10 | 2 | |
| The Hangover | 2009–13 | 3 | |
| Final Destination | 2009–nay | 2 | hợp tác sản xuất với New Line Cinema và Practical Pictures |
| Sherlock Holmes | hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures | ||
| Watchmen | 2009–24 | 3 | Chỉ phân phối tại Hoa Kỳ; hợp tác sản xuất với Paramount Pictures, DC Films (cả hai 2009–24) và Legendary Pictures (2009) |
| Top Cat | 2011–15 | 2 | Chỉ phân phối quốc tế; hợp tác sản xuất với Anima Estudios, Illusion Studios (2011), Discreet Art Productions và Prana Studios (cả hai 2015) |
| Dolphin Tale | 2011–14 | hợp tác sản xuất với Alcon Entertainment | |
| Người Hobbit | 2012–14 | 3 | hợp tác sản xuất với Metro-Goldwyn-Mayer, New Line Cinema và WingNut Films; Đồng sở hữu với Metro-Goldwyn-Mayer |
| Magic Mike | 2012–23 | ||
| Vũ trụ Mở rộng DC | 2013–23 | 15 | hợp tác sản xuất với DC Entertainment (2013–16), DC Films (2016–23) và RatPac Entertainment (2016–17) |
| Vũ trụ The Conjuring | 2013–nay | 7 | hợp tác sản xuất với Atomic Monster, The Safran Company và New Line Cinema |
| The Lego Movie | 2014–19 | 4 | hợp tác sản xuất với Warner Bros. Pictures Animation, Village Roadshow Pictures (2014) và Lego System A/S |
| Monsterverse | 2014–nay | 5 | hợp tác sản xuất với Legendary Pictures |
| Creed | 2015–nay | 3 | hợp tác sản xuất với Metro-Goldwyn-Mayer và New Line Cinema (1–2) |
| IT | 2017–nay | 2 | chỉ phân phối; được sản xuất bởi New Line Cinema, Rideback, Vertigo Entertainment và KatzSmith Productions |
| Cá mập siêu bạo chúa | 2018–nay | ||
| Thám tử Pikachu | 2019–nay | 1 | hợp tác sản xuất với Legendary Pictures, The Pokémon Company và Toho |
| Joker | 2019–24 | 2 | hợp tác sản xuất với Village Roadshow Pictures, DC Films (1) Bron Creative và Joint Effort. |
| Dune | 2021–nay | hợp tác sản xuất với Legendary Pictures | |
| The Batman | 2022–nay | 1 | chỉ phân phối; được sản xuất bởi DC Films (1), 6th & Idaho, Dylan Clark Productions và DC Studios. |
| Một bộ phim Minecraft | 2025–nay | hợp tác sản xuất với Legendary Pictures, Mojang Studios, Vertigo Entertainment và On the Roam. | |
| Vũ trụ DC | chỉ phân phối; được sản xuất bởi DC Studios | ||
| Thế giới kỳ diệu của Gumball | 2011–
nay |
1 | tạo bởi Cartoon Network |
Phim có doanh thu cao nhất
- Chỉ ra những bộ phim hiện đang được phát hành tại rạp trong tuần bắt đầu từ 12 tháng 12 năm 2025.
| Xếp hạng | Tiêu đề | Năm | Doanh thu |
|---|---|---|---|
| 1 | Barbie | 2023 | $636.238.421 |
| 2 | Kỵ sĩ bóng đêm ‡ | 2008 | $534.987.076 |
| 3 | Kỵ sĩ bóng đêm trỗi dậy | 2012 | $448.149.584 |
| 4 | Một bộ phim Minecraft | 2025 | $423.949.195 |
| 5 | Wonder Woman: Nữ thần chiến binh | 2017 | $412.845.172 |
| 6 | Harry Potter và Bảo bối Tử thần – Phần 2 | 2011 | $381.447.587 |
| 7 | The Batman | 2022 | $369.345.583 |
| 8 | Superman | 2025 | $354.184.465 |
| 9 | Lính bắn tỉa Mỹ | 2014 | $350.159.020 |
| 10 | Joker | 2019 | $335.477.657 |
| 11 | Aquaman: Đế vương Atlantis | 2018 | $335.104.314 |
| 12 | Batman đại chiến Superman: Ánh sáng công lý | 2016 | $330.360.194 |
| 13 | It | 2017 | $328.874.981 |
| 14 | Biệt đội cảm tử | 2016 | $325.100.054 |
| 15 | Harry Potter và Hòn đá Phù thủy ‡ | 2001 | $317.871.467 |
| 16 | Người Hobbit: Hành trình vô định | 2012 | $303.030.651 |
| 17 | Harry Potter và Hoàng tử lai | 2009 | $302.334.374 |
| 18 | Harry Potter và Bảo bối Tử thần – Phần 1 | 2010 | $296.374.621 |
| 19 | Ma siêu quậy | 2024 | $294.100.435 |
| 20 | Kẻ trộm giấc mơ | 2010 | $292.587.330 |
| 21 | Harry Potter và Hội Phượng Hoàng | 2007 | $292.382.727 |
| 22 | Người đàn ông thép | 2013 | $291.045.518 |
| 23 | Harry Potter và Chiếc cốc lửa | 2005 | $290.469.928 |
| 24 | Dune: Hành tinh cát – Phần hai | 2024 | $282.144.358 |
| 25 | Ma trận: Tái lập | 2003 | $281.576.461 |
‡ — Bao gồm các lần tái phát hành tại rạp
Liên kết ngoài
- Website chính thức
Bản mẫu:Academy Award Best Picture Producers Bản mẫu:Academy Honorary Award
