factograf
VI

giải thưởng cao nhất tại liên hoan phim Cannes

Cành cọ Vàng

Cành cọ Vàng

Key facts

ngày thành lập hoặc tạo ra1955
là mộtGiải thưởng Liên hoan phim Cannes
quốc giaPháp
All data from the card 5
Địa điểm
Cannes
Quốc gia
Pháp
Được trao bởi
Festival International du Film de Cannes
Lần đầu tiên
1955
Trang chủ
http://www.festival-cannes.com

Cành cọ Vàng (tiếng Pháp: Palme d'Or; phát âm tiếng Pháp:; tiếng Anh: Golden Palm) là giải thưởng cao nhất được trao cho đạo diễn của Phim truyện xuất sắc nhất trong hạng mục Official Competition tại Liên hoan phim Cannes. Giải được ủy ban tổ chức liên hoan giới thiệu vào năm 1955. Trước đó, từ năm 1939 đến 1954, giải thưởng cao nhất của liên hoan là Grand Prix du Festival International du Film. Năm 1964, Cành cọ vàng một lần nữa được thay thế bằng Grand Prix, trước khi được tái giới thiệu vào năm 1975.

Cành cọ vàng được xem rộng rãi là một trong những giải thưởng danh giá nhất của ngành công nghiệp điện ảnh.

Lịch sử

Palme d'Or awarded to Apocalypse Now at the 1979 Cannes Film Festival
Palme d'Or awarded to Apocalypse Now at the 1979 Cannes Film Festival

Năm 1954, liên hoan quyết định trao một giải thưởng hằng năm mang tên Grand Prix trong khuôn khổ Liên hoan phim quốc tế Cannes, với thiết kế mới mỗi năm do một nghệ nhân thực hiện. Ban giám đốc liên hoan đã mời một số thợ kim hoàn đề xuất thiết kế hình cành cọ, nhằm tôn vinh huy hiệu của thành phố Cannes, gợi nhắc truyền thuyết nổi tiếng về Thánh Honorat và những hàng cọ dọc đại lộ Promenade de la Croisette. Thiết kế ban đầu của nữ kim hoàn người Paris - Lucienne Lazon, dựa trên bản phác thảo của đạo diễn Jean Cocteau, có phần đầu dưới của cuống cành được vát thành hình trái tim, còn phần bệ là một tác phẩm điêu khắc bằng đất nung của nghệ sĩ Sébastien.

Năm 1955, Cành cọ vàng lần đầu tiên được trao cho Delbert Mann với bộ phim Marty. Từ năm 1964 đến 1974, liên hoan tạm thời quay lại trao giải Grand Prix. Năm 1975, Cành cọ vàng được tái lập và kể từ đó trở thành biểu tượng của liên hoan, được trao hằng năm cho đạo diễn của bộ phim đoạt giải, đặt trong một hộp làm từ da Morocco đỏ nguyên chất, lót bằng suede trắng.

Tính đến năm 2023, Jane Campion, Julia Ducournau và Justine Triet là ba nữ đạo diễn duy nhất từng giành Cành cọ vàng (lần lượt với các phim The Piano, Titane và Anatomy of a Fall). Tuy nhiên, Bodil Ipsen đã giành giải Grand Prix du Festival International du Film cho bộ phim The Red Meadows (cùng với Lau Lauritzen Jr.) trong kết quả đồng hạng gồm 11 tác phẩm tại kỳ liên hoan khai mạc năm 1946.

Ngoài ra, vào năm 2013, khi Blue Is the Warmest Color giành Cành cọ vàng, ban giám khảo do Steven Spielberg đứng đầu đã trao giải không chỉ cho đạo diễn Abdellatif Kechiche mà còn cho hai nữ diễn viên chính Adèle Exarchopoulos và Léa Seydoux. Đây vẫn là trường hợp duy nhất mà nhiều chiếc Cành cọ vàng được trao cùng lúc. Ban giám khảo quyết định đưa hai nữ diễn viên vào danh sách vinh danh do quy định của Cannes cấm bộ phim đoạt Cành cọ vàng nhận thêm bất kỳ giải thưởng nào khác. Chính sách này sẽ ngăn cản ban giám khảo ghi nhận riêng hai diễn viên. Về quyết định khác thường này, Spielberg nhận xét: “Chỉ cần việc tuyển diễn viên sai lệch 3% thôi, bộ phim đã không thể hiệu quả với chúng tôi như vậy.” Sau đó, Kechiche đã đem đấu giá chiếc Cành cọ vàng của mình để gây quỹ cho bộ phim điện ảnh mới. Trong một cuộc phỏng vấn với The Hollywood Reporter, ông bày tỏ sự không hài lòng với quyết định trao nhiều cúp của liên hoan, cho rằng họ đã “công khai xúc phạm” ông. Ông nói thêm: “Việc giải thoát bản thân khỏi Cành cọ vàng này là cách tôi rửa tay khỏi vụ việc đáng buồn này.”

Kể từ khi được tái giới thiệu, giải thưởng này đã được thiết kế lại nhiều lần. Vào đầu thập niên 1980, phần đế tròn mang hình cành cọ dần được chuyển đổi thành dạng kim tự tháp vào năm 1984. Năm 1992, Thierry de Bourqueney đã thiết kế lại cành cọ và phần đế bằng pha lê cắt thủ công. Đến năm 1997, Caroline Scheufele tiếp tục thiết kế lại bức tượng; từ đó, nó được chế tác bởi hãng kim hoàn Thụy Sĩ Chopard. Cành cọ được làm từ 118 gram vàng vàng 18 cara, trong khi phần gốc của nhánh tạo thành một hình trái tim nhỏ. Cành Cọ Vàng được đặt trên một tấm đệm pha lê tinh xảo có hình dáng như viên kim cương cắt kiểu emerald. Một khối pha lê cắt nguyên khối tạo thành lớp đệm cho cành cọ, vốn được đúc thủ công bằng khuôn sáp và hiện được đặt trong một hộp da Morocco màu xanh. Năm 1998, đạo diễn Theo Angelopoulos là người đầu tiên giành Cành cọ vàng với thiết kế như ngày nay, cho bộ phim Eternity and a Day.

Danh sách chiến thắng

Roberto Rossellini thắng năm 1946
Roberto Rossellini thắng năm 1946
Orson Welles thắng năm 1952.
Orson Welles thắng năm 1952.
Federico Fellini thắng năm 1960.
Federico Fellini thắng năm 1960.
Robert Altman thắng năm 1970.
Robert Altman thắng năm 1970.
Francis Ford Coppolathắng năm 1974 và 1979.
Francis Ford Coppolathắng năm 1974 và 1979.
Martin Scorsese thắng năm 1976.
Martin Scorsese thắng năm 1976.
Emir Kusturica liên tiếp thắng năm 1985 và 1995.
Emir Kusturica liên tiếp thắng năm 1985 và 1995.
David Lynch thắng năm 1990.
David Lynch thắng năm 1990.
Joel Coen thắng năm 1991.
Joel Coen thắng năm 1991.
Jane Campion thắng năm 1993, trở thành người phụ nữ đầu tiên thắng giải.
Jane Campion thắng năm 1993, trở thành người phụ nữ đầu tiên thắng giải.
Quentin Tarantino thắng năm 1994.
Quentin Tarantino thắng năm 1994.
Abbas Kiarostami thắng năm 1997.
Abbas Kiarostami thắng năm 1997.
12 images

1940s

Năm Tựa Tiếng Anh Tựa Gốc Đạo Diễn Quốc Gia Ghi Chú
1939 Liên hoan phim Cannes đầu tiên dự kiến được tổ chức vào năm 1939, nhưng đã bị hủy bỏ do sự bùng nổ của Chiến tranh Thế giới thứ hai.
1946 Brief Encounter David Lean Vương quốc Anh
The Last Chance Die Letzte Chance Leopold Lindtberg Thụy Sĩ
The Lost Weekend Billy Wilder Hoa Kỳ
María Candelaria Emilio Fernández Mexico
Men Without Wings Muži bez křídel František Čáp Tiệp Khắc
Neecha Nagar Chetan Anand Ấn Độ
Pastoral Symphony La symphonie pastorale Jean Delannoy Pháp
The Red Meadows De røde enge Bodil Ipsen

Lau Lauritzen Jr.

Đan Mạch
Rome, Open City Roma, città aperta Roberto Rossellini Ý
Torment Hets Alf Sjöberg Thụy Điển
The Turning Point Великий перелом Fridrikh Ermler Liên Xô
1947 Antoine and Antoinette (Best Psychological & Love Film) Antoine et Antoinette Jacques Becker Pháp
Crossfire (Best Social Film) Edward Dmytryk Hoa Kỳ
The Damned (Best Adventure & Crime Film) Les Maudits René Clément Pháp
Ziegfeld Follies (Best Musical Comedy) Vincente Minnelli Hoa Kỳ
1948 Không tổ chức
1949 The Third Man Carol Reed Vương quốc Anh

1950s

Năm Tựa Tiếng Anh Tựa Gốc Đạo Diễn Quốc Gia Ghi Chú
1950 Không tổ chức
1951 Miracle in Milan Miracolo a Milano Vittorio De Sica Ý
Miss Julie Fröken Julie Alf Sjöberg Thụy Điển
1952 Othello Orson Welles Ý, Morocco, Hoa Kỳ
Two Cents Worth of Hope Due soldi di speranza Renato Castellani Ý
1953 The Wages of Fear Le salaire de la peur Henri-Georges Clouzot Pháp
1954 Gate of Hell 地獄門 Teinosuke Kinugasa Nhật Bản
1955 Marty § Delbert Mann Hoa Kỳ
1956 The Silent World Le monde du silence Jacques Cousteau

Louis Malle

Pháp
1957 Friendly Persuasion William Wyler Hoa Kỳ
1958 The Cranes Are Flying Летят журавли Mikhail Kalatozov Liên Xô
1959 Black Orpheus § Orfeu Negro Marcel Camus Pháp, Brazil

1960s

Năm Tựa Tiếng Anh Tựa Gốc Đạo Diễn Quốc Gia Ghi Chú
1960 La dolce vita § Federico Fellini Ý
1961 The Long Absence § Une aussi longue absence Henri Colpi Pháp
Viridiana § Luis Buñuel Tây Ban Nha
1962 O Pagador de Promessas § Anselmo Duarte Brazil
1963 The Leopard § Il gattopardo Luchino Visconti Ý
1964 The Umbrellas of Cherbourg Les parapluies de Cherbourg Jacques Demy Pháp
1965 The Knack...and How to Get It Richard Lester Vương quốc Anh
1966 The Birds, the Bees and the Italians Signore e signori Pietro Germi Ý
A Man and a Woman Un homme et une femme Claude Lelouch Pháp
1967 Blowup Michelangelo Antonioni Vương quốc Anh
1968 Liên hoan phim đã bị hủy giữa chừng nhằm thể hiện sự đoàn kết với sinh viên và công nhân đang biểu tình trong phong trào sau này được gọi là “Tháng Năm 1968”.
1969 If.... Lindsay Anderson Vương quốc Anh

1970s

Năm Tựa Tiếng Anh Tựa Gốc Đạo Diễn Quốc Gia Ghi Chú
1970 M*A*S*H Robert Altman Hoa Kỳ
1971 The Go-Between Joseph Losey Vương quốc Anh
1972 The Mattei Affair § Il caso Mattei Francesco Rosi Ý
The Working Class Goes to Heaven § La classe operaia va in paradiso Elio Petri
1973 The Hireling Alan Bridges Vương quốc Anh
Scarecrow Jerry Schatzberg Hoa Kỳ
1974 The Conversation Francis Ford Coppola
1975 Chronicle of the Years of Fire Chronique des années de braise Mohammed Lakhdar-Hamina Algeria
1976 Taxi Driver Martin Scorsese Hoa Kỳ
1977 Padre Padrone Paolo and Vittorio Taviani Ý
1978 The Tree of Wooden Clogs § L'albero degli zoccoli Ermanno Olmi
1979 Apocalypse Now Francis Ford Coppola Hoa Kỳ
The Tin Drum Die Blechtrommel Volker Schlöndorff Tây Đức, Pháp

1980s

Năm Tựa Tiếng Anh Tựa Gốc Đạo Diễn Quốc Gia Ghi Chú
1980 All That Jazz Bob Fosse Hoa Kỳ
Kagemusha 影武者 Akira Kurosawa Nhật Bản
1981 Man of Iron Człowiek z żelaza Andrzej Wajda Ba Lan
1982 Missing § Costa-Gavras Hoa Kỳ
Yol § Yılmaz Güney & Şerif Gören Thổ Nhĩ Kỳ
1983 The Ballad of Narayama 楢山節考 Shōhei Imamura Nhật Bản
1984 Paris, Texas § Wim Wenders Tây Đức, Pháp
1985 When Father Was Away on Business § Отац на службеном путу Emir Kusturica Nam Tư
1986 The Mission Roland Joffé Vương quốc Anh, Hoa Kỳ
1987 Under the Sun of Satan § Sous le soleil de Satan Maurice Pialat Pháp
1988 Pelle the Conqueror Pelle Erobreren Bille August Đan Mạch
1989 Sex, Lies, and Videotape Steven Soderbergh Hoa Kỳ

1990s

Năm Tựa Tiếng Anh Tựa Gốc Đạo Diễn Quốc Gia Ghi Chú
1990 Wild at Heart David Lynch Hoa Kỳ
1991 Barton Fink § Joel Coen
1992 The Best Intentions Den goda viljan Bille August Đan Mạch, Thụy Điển
1993 Farewell My Concubine 霸王別姬 Chen Kaige Hong Kong
The Piano Jane Campion New Zealand, Úc, Pháp
1994 Pulp Fiction Quentin Tarantino Hoa Kỳ
1995 Underground Подземље Emir Kusturica Nam Tư
1996 Secrets & Lies Mike Leigh Vương quốc Anh, Pháp
1997 The Eel うなぎ Shōhei Imamura Nhật Bản
Taste of Cherry طعم گيلاس Abbas Kiarostami Iran
1998 Eternity and a Day § Μια αιωνιότητα και μια μέρα Theo Angelopoulos Hy Lạp
1999 Rosetta § Jean-Pierre & Luc Dardenne Bỉ

2000s

Năm Tựa Tiếng Anh Tựa Gốc Đạo Diễn Quốc Gia Ghi Chú
2000 Dancer in the Dark Lars von Trier Đan Mạch
2001 The Son's Room La stanza del figlio Nanni Moretti Ý
2002 The Pianist Roman Polanski Ba Lan, Pháp, Đức, Vương quốc Anh
2003 Elephant Gus Van Sant Hoa Kỳ
2004 Fahrenheit 9/11 Michael Moore
2005 L'Enfant Jean-Pierre & Luc Dardenne Bỉ, Pháp
2006 The Wind That Shakes the Barley § Ken Loach Ireland, Vương quốc Anh, Ý, Đức
2007 4 Months, 3 Weeks and 2 Days 4 luni, 3 săptămâni și 2 zile Cristian Mungiu Romania
2008 The Class § Entre les murs Laurent Cantet Pháp
2009 The White Ribbon Das weiße Band Michael Haneke Đức, Áo, Pháp

2010s

Năm Tựa Tiếng Anh Tựa Gốc Đạo Diễn Quốc Gia Ghi Chú
2010 Uncle Boonmee Who Can Recall His Past Lives ลุงบุญมีระลึกชาติ Apichatpong Weerasethakul Thái Lan, Pháp, Đức
2011 The Tree of Life Terrence Malick Hoa Kỳ
2012 Amour Michael Haneke Pháp, Đức, Áo
2013 Blue Is the Warmest Colour § La Vie d'Adèle: Chapitres 1 et 2 Abdellatif Kechiche Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha
2014 Winter Sleep Kış Uykusu Nuri Bilge Ceylan Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Đức
2015 Dheepan Jacques Audiard Pháp
2016 I, Daniel Blake Ken Loach Vương quốc Anh
2017 The Square Ruben Östlund Thụy Điển, Pháp, Đức, Đan Mạch
2018 Kẻ Trộm Siêu Thị 万引き家族 Hirokazu Kore-eda Nhật Bản
2019 Ký Sinh Trùng § 기생충 Bong Joon Ho Hàn Quốc

2020s

Năm Tựa Tiếng Anh Tựa Gốc Đạo Diễn Quốc Gia Ghi Chú
2020 Liên hoan phim bị hủy do đại dịch COVID-19. Có 56 bộ phim được công bố là lựa chọn chính thức của liên hoan, nhưng không có giải thưởng nào được trao.
2021 Titane Julia Ducournau Pháp, Bỉ
2022 Triangle of Sadness Ruben Östlund Thụy Điển, Pháp, Đức, Vương quốc Anh
2023 Anatomy of a Fall Anatomie d'une chute Justine Triet Pháp
2024 Anora Sean Baker Hoa Kỳ
2025 It Was Just an Accident یک تصادف ساده Jafar Panahi Iran, Pháp, Luxembourg
Ghi chú
§ Chiến thắng tuyệt đối

Special Palme d'Or

Trong lễ bế mạc năm 2018, ban giám khảo lần đầu tiên trao một “Special Palme d'Or”. Dù giải thưởng này không được xem là Cành cọ vàng danh dự dành cho Jean-Luc Godard, động thái này được thực hiện như một sự tri ân đối với sự nghiệp của ông, đồng thời cũng là một giải thưởng dành cho chính bộ phim.

Năm Tựa Tiếng Anh Tựa Gốc Đạo Diễn Quốc Gia Ghi Chú
2018 The Image Book Le Livre d'image Jean-Luc Godard Thụy Sĩ, Pháp

Kỉ lục chiến thắng

Chín đạo diễn hoặc bộ đôi đạo diễn đã giành giải thưởng này hai lần. Trong số đó, ba người (‡) đã chiến thắng với hai bộ phim liên tiếp.

Thắng Đạo Diễn Quốc Tịch Phim
2 Alf Sjöberg Thụy Điển Torment (1946),

Miss Julie (1951)

Francis Ford Coppola Hoa Kỳ The Conversation (1974),

Apocalypse Now (1979)

Bille August ‡ Đan Mạch Pelle the Conqueror (1988),

The Best Intentions (1992)

Emir Kusturica Nam Tư When Father Was Away on Business (1985),

Underground (1995)

Shōhei Imamura Nhật Bản The Ballad of Narayama (1983),

The Eel (1997)

Jean-Pierre & Luc Dardenne Bỉ Rosetta (1999),

L'Enfant (2005)

Michael Haneke ‡ Áo The White Ribbon (2009),

Amour (2012)

Ken Loach Vương quốc Anh The Wind That Shakes the Barley (2006),

I, Daniel Blake (2016)

Ruben Östlund ‡ Thụy Điển The Square (2017),

Triangle of Sadness (2022)

Liên kết ngoài

  • All the Palmes d'Or Lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2006 tại Wayback Machine. Festival-cannes.com.
  • Cannes Film Festival Lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2010 tại Wayback Machine. IMDB.
  • Palme d'Or Winners, 1976-nay, by gross box.


Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng

Read next

In 73 languages

Text from Wikipedia, CC BY-SA 4.0 · Source article