factograf
VI

Arsenal W.F.C.

Arsenal W.F.C.

Key facts

ngày thành lập hoặc tạo ra1987
quốc giaVương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
giải thưởngFA Women's Super League
All data from the card 11
Tên đầy đủ
Arsenal Women Football Club
Biệt danh
The Gunners
Thành lập
1987
Sân
Meadow Park, Borehamwood, Hertfordshire
Sức chứa
4.500 (1.700 có ghế ngồi)
Chủ sở hữu
Kroenke Sports & Entertainment
Tổng giám đốc
Clare Wheatley
Huấn luyện viên
Jonas Eideval
Giải đấu
FA WSL
2024–2025
Thứ 2
Website
http://www.arsenal.com/women

Arsenal Women Football Club (tên cũ Arsenal Ladies Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá nữ Anh được thành lập vào năm 1987 trực thuộc Arsenal. Họ là câu lạc bộ thành công nhất trong lịch sử bóng đá nữ Anh, giành nhiều danh hiệu nhất trong các giải đấu quốc nội mà họ đã thi đấu, trong đó có 3 chức vô địch FA WSL, 12 FA Women's Premier League, 14 Cúp FA, 10 Women's Premier League Cup, 5 FA WSL Cup. Họ cũng là đội bóng Anh đầu tiên và duy nhất từng vô địch UEFA Women's Champions League (2 lần)

.

Lịch sử

1987–2009: Thành lập và những thành công ban đầu

Arsenal Ladies F.C. được Vic Akers, huấn luyện viên lo trang phục thi đấu của đội nam Arsenal thành lập với tên gọi là Arsenal Ladies Football Club, đồng thời là huấn luyện viên của đội tới năm 2009. Họ giành danh hiệu lớn đầu tiên, Cúp Liên đoàn nữ vào mùa giải 1991–92. Vào năm 1992 họ giành quyền lên chơi tại FA Women's Premier League và vô địch ngay trong mùa giải đầu tiên. Tính tới 2010, họ đã giành 12 trong số 17 chức vô địch Premier League (trước khi lên chơi tại FA WSL vào năm 2011), trong đó có kỷ lục 7 mùa liên tiếp vô địch từ 2004 đến 2010.

Tính tới năm 2011, Arsenal Ladies đã có 11 Cúp FA nữ và 10 Cúp Liên đoàn nữ, trong đó có 8 cú đúp Cúp quốc gia và Giải vô địch quóc gia vào các mùa giải 1992–93, 1994–95, 2000–01, 2003–04, 2005–06, 2006–07, 2007–08 và 2008–09, cùng bốn cú ăn ba quốc nội vào các năm 1992–93, 2000–01, 2006–07 và 2008–09. Arsenal cũng đại diện cho nước Anh tại bảy kỳ UEFA Women's Cup và vào bán kết hai lần (2002–03 và 2004–05) trước khi giải đấu đổi tên.

Mùa 2006–07 là mùa giải thành công nhất của đội khi không chỉ giành ba danh hiệu trong nước mà cả UEFA Women's Cup 2006–07, đánh bại Umeå IK tại chung kết với tổng tỉ số 1–0, trở thành câu lạc bộ Anh đầu tiên giành cúp châu Âu. Cùng với đó là Siêu cúp nữ Anh và Giải bóng đá Liên đoàn Hạt Luân Đôn. Với các thành tích trên họ đã giành chiến thắng trên mọi đấu trường họ tham dự và lập kỳ tích ăn sáu vô tiền khoáng hậu. Arsenal Ladies cũng thắng cả 22 trận tại Premier League mùa giải này, ghi 119 bàn và chỉ lọt lưới 10 quả.

Arsenal không thể bảo vệ thành công Cúp châu Âu mùa giải 2007–08 sau khi bị Olympique Lyonnais loại ở tứ kết. Họ cũng thất bại trong trận chung kết League Cup trước Everton. Tuy nhiên họ vẫn bay cao tại giải vô địch quốc gia với chức vô địch thứ 5 liên tiếp nhờ 20 chiến thắng và chỉ hai kết quả hòa trong 22 trận, cũng như vô địch Cúp FA sau khi đánh bại Leeds 4–1 trong trận chung kết. Mùa giải 2008–09 chứng kiến kỷ lục 5 năm bất bại tại giải vô địch quốc gia phải dừng lại. Từ 16 tháng 10 năm 2003 (thua Charlton Athletic) tới 29 tháng 3 năm 2009 (thua 0–3 trên sân nhà trước Everton) Arsenal đã thi đấu một mạch 108 trận không để thua một trận nào. Trong quãng thời gian này đội cũng lập kỷ lục 51 trận thắng liên tiếp tại giải vô địch quốc gia, từ tháng 11 năm 2005 tới tháng 4 năm 2008. Mặc dù thua Everton, Arsenal sau đó vẫn giành cú ăn ba trong mùa giải 2008–09, chiến thắng trên sân khách trước chính Everton với tỉ số 1–0 trong lượt trận cuối cùng, giúp Vic Akers có danh hiệu VĐQG thứ 11 và cú ăn ba thứ tư.

2009–nay: Thời hậu Akers và WSL

Akers quyết định từ nhiệm sau khi mùa 2009 kết thúc, và được thay thế bằng Tony Gervaise. Vào tháng 2 năm 2010, sau tám tháng cầm quân, Gervaise từ chức vì cho rằng vị trí của ông bị lung lay bởi nhân tố bên ngoài. Huấn luyện viên đội dự bị Laura Harvey trở thành huấn luyện viên trưởng còn Gervaise tiếp quản vị trí của Harvey. Sau đó Arsenal có tên trong danh sách các đội bóng dự giải vô địch nữ mới FA WSL dự kiến bắt đầu vào đầu năm 2011. Arsenal tiếp tục chứng tỏ sức mạnh ngay ở mùa đầu tiên với danh hiệu vô địch quốc gia thứ 8 liên tiếp và đoạt vé dự UEFA Women's Champions League. Arsenal còn lên ngôi tại Cúp FA và Cúp Liên đoàn để hoàn tất cú ăn ba trong năm 2011. Trong mùa giải 2012 họ tiếp tục bảo vệ thành công chức vô địch quốc gia khi bất bại trong cả mùa cùng chức vô địch cúp Liên đoàn thứ hai liên tiếp.

Ngày 1 tháng 2 năm 2013 Shelley Kerr được bổ nhiệm thay cho Laura Harvey làm huấn luyện viên trưởng của Arsenal Ladies. Dưới sự dẫn dắt của bà, đội bóng đăng quang cúp quốc gia cùng một League Cup, đứng thứ ba tại giải quốc nội trong mùa giải 2013. Sau chuỗi trận thất vọng với chỉ một điểm sau bốn trận đầu tiên mùa giải 2014, cộng thêm việc bị loại tại Champions League trước Birmingham và bất ngờ thua Reading tại cúp Liên đoàn, Kerr quyết định từ chức. Mặc dù vậy trước khi chia tay câu lạc bộ, bà vẫn cùng Arsenal Ladies giành Cúp FA 2014 sau chiến thắng 2–0 trước Everton. Sau đó dưới thời của Pedro Losa, Arsenal lọt vào trận chung kết FA WSL Cup 2014 với Manchester City nhưng để thua đối thủ với tỉ số 0–1. Họ tiếp tục lọt vào chung kết FA WSL Cup lần thứ 5 liên tiếp vào năm 2015 và giành chiến thắng 3–0 trước Notts County. Họ còn vô địch FA Women's Cup năm 2016. Tuy nhiên, Losa đã từ chức vào cuối mùa giải sau đó và được thay thế bằng Joe Montemurro.

Vào tháng 7 năm 2017, câu lạc bộ đổi tên thành Arsenal Women Football Club. Montemurro đã dẫn dắt đội vô địch FA WSL 2018–19 lần đầu sau 7 năm, cùng với đó đánh dấu sự trở lại của đội tại Champions League sau 5 năm.

Cầu thủ

Arsenal Ladies vào năm 2009.
Arsenal Ladies vào năm 2009.

Đội hình hiện tại

Tính đến 16 tháng 8 năm 2022.

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Manuela Zinsberger
2 HV Rafaelle Souza
3 HV Lotte Wubben-Moy
5 HV Jen Beattie
6 HV Leah Williamson
7 HV Steph Catley
8 TV Jordan Nobbs (đội phó)
9 TĐ Beth Mead
10 TV Kim Little (đội trưởng)
11 TĐ Vivianne Miedema
12 TV Frida Maanum
Số VT Quốc gia Cầu thủ
13 TV Lia Wälti (đội trưởng thứ ba)
15 TĐ Katie McCabe
16 HV Noëlle Maritz
17 TĐ Lina Hurtig
18 TM Kaylan Marckese
19 TĐ Caitlin Foord
23 TĐ Mana Iwabuchi
25 TĐ Stina Blackstenius
26 HV Laura Wienroither
29 HV Teyah Goldie

Cho mượn

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
4 HV Anna Patten (tại Aston Villa đến cuối mùa giải 2022–23)
24 TM Fran Stenson (tại Birmingham City đến cuối mùa giải 2022–23)

Ban huấn luyện

Tính đến ngày 28 tháng 6 năm 2021.

Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởng Jonas Eidevall
Trợ lí huấn luyện viên Aaron D'Antino
Trợ lí và huấn luyện viên phát triển cá nhân Leanne Hall
Huấn luyện viên thủ môn Sebastian Barton

Các đời huấn luyện viên

Thời gian Tên
1987–2009 Vic Akers
2009–2010 Tony Gervaise
2010–2013 Laura Harvey
2013–2014 Shelley Kerr
2014–2017 Pedro Martínez Losa
2017–2021 Joe Montemurro
2021– Jonas Eidevall

Sân vận động

Arsenal Ladies ăn mừng cú đúp năm 1998.
Arsenal Ladies ăn mừng cú đúp năm 1998.

Hiện nay Arsenal Women thi đấu các trận sân nhà tại giải vô địch quốc gia trên sân Meadow Park, sân nhà của đội bóng nam Boreham Wood thuộc giải Conference Premier tại Borehamwood, Hertfordshire. Sân có sức chứa 4.000 chỗ, mặc dù số khán giải trung bình trong các trận đấu chỉ là vài trăm. Các trận đấu của Arsenal tại UEFA Women's Champions League cũng được tổ chức tại đây. Tuy nhiên nhờ liên kết với Arsenal F.C. nên họ đôi khi được phép thi đấu tại sân Emirates.

Liên kết với Arsenal F.C.

Arsenal Women nhận được sự quan tâm và hỗ trợ từ câu lạc bộ nam Arsenal. David Dein, cựu phó chủ tịch Arsenal F.C., giữ vị trí chủ tịch của đội nữ cho tới khi ông rời đội vào 18 tháng 4 năm 2007, và được thay thế bởi Keith Edelman, giám đốc điều hành của Arsenal, cho tới khi ông rời đi vào 1 tháng 5 năm 2008. Ivan Gazidis, tổng giám đốc điều hành của Arsenal, hiện là chủ tịch của Arsenal Women.

Nhiều người trong thành phần thi đấu của đội được Arsenal tuyển chọn để phát triển và kết hợp các đội nữ và học viện của câu lạc bộ. Hai đội nam và nữ cùng được tài trợ từ Emirates và Puma (và trước đây là Nike).

Danh hiệu

Những mùa giải được in đậm khi đội giành được cú đúp vô địch quốc gia và Cúp FA.

Quốc nội

1992–93, 1994–95, 1996–97, 2000–01, 2001–02, 2003–04, 2004–05, 2005–06, 2006–07, 2007–08, 2008–09, 2009–10, 2011, 2012, 2018–2019
1992–93, 1994–95, 1997–98, 1998–99, 2000–01, 2003–04, 2005–06, 2006–07, 2007–08, 2008–09, 2010–11, 2012-13, 2013–14, 2015–16
2011, 2012, 2013, 2015, 2017–18
1991–92, 1992–93, 1993–94, 1997–98, 1998–99, 1999–2000, 2000–01, 2004–05, 2006–07, 2008–09
2000, 2001, 2005, 2006, 2007, 2008
  • London County FA Women's Cup: 10 (kỷ lục)
1994–95, 1995–96, 1996–97, 1999–2000, 2003–04, 2006–07, 2007–08, 2008–09, 2009–10, 2010–11
1991–92

Châu Âu

2006–07, 2024-2025

Thành tích tại UEFA Women's Champions League

Mùa Vòng Kết quả Đối thủ Người ghi bàn
2001-02 Vòng bảng 4-0 FC Bern Banks 2, Grant, Ludlow
7-0 Hapoel Tel Aviv Ludlow 3, Coss, Grant, Moore, Ogawa
2-1 Wroclaw Banks, Spacey
Tứ kết 1-1 1-2 Toulouse Grant, Maggs
2002-03 Vòng bảng 6-0 Gömrükçü Baku Banks 2, Wheatley 2, Grant, Ludlow
2-1 Levante Maggs, F. White
7-0 Eendracht Aalst Ludlow 3, Maggs 2, Grant, Scott
Tứ kết 2-0 1-1 CSK VVS Samara MacDonald, Maggs + 1 phản lưới
Bán kết 1-3 1-5 Fortuna Hjørring Banks 2
2004-05 Vòng bảng 2-2 Athletic Bilbao Grant, F. White
7-1 AE Aegina Fleeting 2, Banks, Grant, Ludlow, Wheatley, F. White
1-0 Djurgården Kemp
Tứ kết 0-2 4-1 Torres Banks, Fleeting, Ludlow + 1 bàn phản lưới
Bán kết 1-1 0-1 Djurgården Fleeting
2005-06 Vòng bảng 3-1 Wroclaw Ludlow, McArthur, Sanderson
1-0 Lada Tolyatti Ludlow
0-1 Brøndby
Tứ kết 1-1 1-3 Frankfurt Grant, Sanderson
2006-07 Vòng bảng 5-4 Rossiyanka Fleeting 5
6-0 Femina Budapest Ludlow 2, Chapman, Davison, Yankey + 1 bàn phản lưới
1-0 Brøndby Sanderson
Tứ kết 5-0 4-1 Breiðablik Fleeting 3, Smith 3, Carney, Sanderson, Yankey
Bán kết 2-2 3-0 Brøndby Smith 2, Carney, Fleeting, Yankey
Chung kết 1-0 0-0 Umeå IK Scott
2007-08 Vòng bảng 4-0 Alma KTZh Carney 2, Chapman, Sanderson
7-0 Neulengbach Fleeting 2, Ludlow 2, Carney, Chapman, Grant
3-3 Bardolino Fleeting, Grant, Smith
Tứ kết 0-0 2-3 Olympique Lyonnais Smith, Yankey
2008-09 Vòng bảng 7-2 Zürich Little 3, Ludlow 2, Davison, Smith
6-0 Neulengbach Carney 2, Davison, Fleeting, Little, Tracy
0-3 Olympique Lyonnais
Tứ kết 3-2 0-6 Umeå Fleeting, Little, Ludlow
2009-10 Vòng 1/16 9-0 9-0 P.A.O.K. Little 7, Lander 2, Yankey 2, Beattie, Bruton, Chapman, Coombs, Davison, Ludlow + 1 bàn phản lưới
Vòng 1/8 3-0 2-0 Sparta Praha Little 2, Flaherty, Grant + 1 bàn phản lưới
Tứ kết 1-2 0-2 Duisburg 1 bàn phản lưới
2010-11 Vòng 1/16 3-1 9-0 Mašinac Niš Carter 2, Little 2, Davison, Flaherty, Ludlow, Nobbs, F. White, Yankey + 1 bàn phản lưới
Vòng 1/8 0-2 4-1 Rayo Vallecano Chapman, Fleeting, Grant, Yankey
Tứ kết 1-1 2-2 Linköpings Chapman, E. White, Yankey
Bán kết 0-2 2-3 Olympique Lyonnais Fleeting, E. White
2011-12 Vòng 1/16 4-0 6-0 Bobruichanka Beattie 3, Carter 2, Chapman 2, Nobbs 2, E. White
Vòng 1/8 1-1 5-1 Rayo Vallecano Little 2, Carter, Ludlow, Nobbs, Yankey
Tứ kết 3-1 0-1 Göteborg Little, Nobbs, Yankey
Bán kết 1-2 0-2 Frankfurt Grant
2012-13 Vòng 1/16 3-0 4-0 Barcelona Beattie 4, Chapman, Little, Nobbs
Vòng 1/8 2-1 4-3 Turbine Potsdam Smith 3, E. White 2, Chapman
Tứ kết 3-1 1-0 Torres Smith, Little, Nobbs, Fahey
Bán kết 0-2 1-2 Wolfsburg Little
2013-14 Vòng 1/16 7-1 11-1 CSHVSM Kairat Little 5, Carter 5, Nobbs 3, Chapman, Yankey, Ayisi, Weir, E. White
Vòng 1/8 3-0 3-2 Glasgow City Houghton, 3 Carter, Yankey, Nobbs
Tứ kết 0-1 0-2 Birmingham City

Xem thêm

Liên kết ngoài

  • Trang chính thức của Arsenal Women trên Arsenal.com

Read next

In 44 languages

Text from Wikipedia, CC BY-SA 4.0 · Source article